Kỹ Thuật Nuôi Ghép Cá Rô Phi Với Tôm Chân Trắng Nam Mỹ
Mấy năm gần đây, diện tích nuôi tôm Chân trắng Nam Mỹ (Penaeus vannamei) không ngừng gia tăng, khiến diện tích nuôi cá dần dần giảm xuống. Để ổn định và phát triển nghề nuôi cá Rô phi, năm 2006, một cơ sở nuôi thuỷ sản ở Tùng Hạ (thuộc thành phố Thượng Ngu, tỉnh Triết Giang) đã tiến hành nuôi ghép cá Rô phi với tôm Chân trắng Nam Mỹ ở trong ao, cho hiệu quả kinh tế cao.
Từ kết quả nuôi có thể rút ra nhận xét: nuôi ghép cá Rô phi trong ao nuôi tôm Chân trắng Nam Mỹ làm tăng khả năng “cạnh tranh” giữa hai loài, hơn nữa, chấm dứt được tình trạng lan truyền dịch bệnh ở tôm, tạo ra các sản phẩm thuỷ sản có chất lượng tốt và đem lại hiệu quả kinh tế, đồng thời mở ra một con đường mới cho nghề nuôi cá Rô phi.
1. Chuẩn bị ao nuôi
Vị trí ao ở ven biển với tổng diện tích là 120 mẫu (1 mẫu = 666 m2), xung quanh không có nguồn ô nhiễm, nguồn nước dồi dào, chất lượng nước tốt, nước trong, sạch, nước được dẫn vào và tháo ra tiện lợi. Mỗi ao có diện tích từ 6 - 10 mẫu , đa số các ao có hướng Đông Tây, mực nước trong ao từ 1,5 đến 2m
2. Công việc chuẩn bị trước khi nuôi
Tiến hành các công việc sửa sang lại ao, vét bùn đọng, làm sạch ao. 20 ngày trước khi thả giống, dùng 150 kg/mẫu vôi sống, hoà thành nước vôi, rải khắp ao để khử trùng, tiêu diệt sinh vật có hại, sinh vật gây bệnh và vật chủ trung gian mang mầm bệnh. Trước khi thả nuôi 10 ngày, dẫn nước vào, nước phải được lọc qua lưới có kích cỡ mắt lưới từ 0,3 - 0,4 mm, dẫn nước cho tới khi mực nước cao khoảng 50 cm.
3. Thả con giống
Ngày 20 tháng 4, thả giống tôm Chân trắng Nam Mỹ với mật độ thả là 43 nghìn con/mẫu. Khi tôm đạt 3 cm, ngày 10 tháng 5, thả giống cá Rô phi có kích cỡ là 40 con/kg, với mật độ thả là 280 con/mẫu.
4. Quản lý trong thời gian nuôi
4.1 Cho ăn
Căn cứ vào tập tính bắt mồi của tôm Chân trắng Nam Mỹ và cá Rô phi, áp dụng phương thức chỉ cho ăn vào lúc sáng và tối, tức là cho tôm Chân trắng Nam Mỹ ăn vào lúc trước khi trời sáng và sau khi trời đã tối, ban ngày không cho ăn. Thức ăn được thả ở chỗ bãi nông xung quanh ao, lượng cho ăn nhiều hơn một ít so với lượng thức ăn chỉ chuyên nuôi tôm Chân trắng Nam Mỹ, thức ăn do tôm Chân trắng Nam Mỹ ăn còn thừa lại thì được cá Rô phi tận dụng nốt.
4.2 Quản lý nước
Kịp thời cấp nước, thay nước mới. Nói chung, giai đoạn đầu khi nuôi phải thường xuyên thay nước để đảm bảo chất lượng nước, đến khi tôm Chân trắng Nam Mỹ đạt tới 8 cm thì căn cứ vào tình hình chất nước để quyết định thời điểm thay nước, lượng nước thay mỗi lần không quá 20 cm, định kỳ sử dụng chế phẩm vi sinh vật để điều chỉnh chất nước, nói chung cứ cách 20 ngày dùng 1 lần. Kịp thời sử dụng máy sục khí để làm tăng hàm lượng ôxy hoà tan, phòng ngừa hiện tượng tôm nổi đầu.
4.3 Quản lý hằng ngày
Hằng ngày, cần sớm - tối tuần tra ao, quan sát chất nước, theo dõi tình hình hoạt động và kiếm mồi của tôm, kịp thời phòng trị bệnh, đặc biệt là phải làm tốt công tác ghi chép.
5. Kết quả nuôi
Hạ tuần tháng 8 bắt đầu thu hoạch tôm, căn cứ vào sự khác nhau về tập tính của tôm Chân trắng Nam Mỹ và cá Rô phi, căn cứ vào đặc điểm hoạt động khác nhau của chúng, quyết định tiến hành thu hoạch tôm vào buổi tối, thời điểm thu hoạch là sau 8 giờ tối, vì lúc này cá Rô phi đang ở trong trạng thái nghỉ ngơi, còn tôm Chân trắng Nam Mỹ thì ở trong trạng thái hoạt động mãnh liệt. Vì thế, tôm Chân trắng Nam Mỹ bơi vào lồng nhiều, còn cá Rô phi vào lồng cực kỳ ít.
Sản lượng thu hoạch tôm Chân trắng Nam Mỹ trung bình là 360 kg/mẫu, sản lượng cá Rô phi trung bình là 134 kg/mẫu.
6. Nhận xét và kết luận
Cá Rô phi chịu được hàm lượng ôxy hoà tan thấp, khả năng bắt mồi mạnh, tính ăn tạp, không chỉ có thể ăn được thức ăn thừa và phân của tôm Chân trắng Nam Mỹ, mà còn có thể ăn được tôm chết và một số loài tảo lam, tảo dạng sợi, do đó, rất có ích trong việc cải thiện nguồn nước nuôi, cụ thể là giúp nâng cao độ trong của nước, ổn định pH, từ đó hạ thấp đạm dạng amôniac,v.v...
Hệ số thức ăn của tôm Chân trắng Nam Mỹ nuôi đơn thường giữ ở mức 1 - 1,1, trong khi hệ số thức ăn của tôm Chân trắng Nam Mỹ khi nuôi ghép với cá Rô phi vào khoảng 1,2 - 1,3. Tuy tăng giá thành thức ăn tôm Chân trắng Nam Mỹ nhưng có thể giảm thiểu ô nhiễm nước, ngăn chặn và hạ thấp được nguồn dịch bệnh. Do đó, nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi, rất có triển vọng mở rộng.
Có thể bạn quan tâm
Đặc điểm kỹ thuật trong thức ăn của cá rô phi phụ thuộc vào nhu cầu dinh dưỡng trong từng điều kiện nuôi. Cũng giống như các loại cá khác, cá rô phi cũng cần 10 loại axit amin thiết yếu, chúng tiêu hóa cácbon hyđrát tốt hơn cá chép và cá trê phi. Việc cung cấp nhiều loại cácbon hyđrát và lipit có tác dụng tăng hiệu quả của protein trong chế độ ăn, với mức protein chiếm 18 – 22%.
Các hệ thống Biofloc tạo điều kiện cho việc sản xuất cá rô phi chuyên sâu hơn. Loài cá rô phi này thích nghi với các điều kiện trong các hệ thống biofloc và phát triển tốt bằng cách sử dụng biofloc như một nguồn thức ăn. Việc tái chế thức ăn và giảm thiểu trao đổi nước là những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế sản xuất cá rô phi. Sự hiểu biết hệ thống biofloc, giám sát và phản ứng nhanh với những diễn biến tiêu cực cũng thực sự cần thiết cho việc nuôi trồng thành công
Cá rô phi vằn dòng gift được nhập vào nước ta từ giữa những năm 1990 và hiện đang được nuôi phổ biến ở nhiều địa phương. Loài cá này có ưu điểm nổi bật là tốc độ tăng trọng cao hơn 60% so với cá rô phi thường, tỷ lệ sống cao hơn 50%. Xin giới thiệu một số kỹ thuật cơ bản nuôi giống cá này.
Cá rô phi thuộc loại kém chịu lạnh, thường chết nhiều khi nhiệt độ ao nuôi dưới 120C. Ở các tỉnh miền bắc nước ta, vào những tháng mùa đông, nhiệt độ có thể xuống thấp tới 140C, tháng rét nhất có khi 10 -110C và kéo dài nhiều ngày. Các tỉnh miền núi phía bắc, nhiệt độ nhiều nơi còn xuống dưới 100C. Ở nhiệt độ này, cá bị chết, thậm chí chết hết cả ao nếu không phòng chống rét kịp thời cho cá.
Cá rô phi dễ nuôi, có khả năng thích nghi tốt với sự biến đổi của môi trường. Chúng ăn các loại tảo, động vật nhỏ, mùn bã hữu cơ làm sạch môi trường trong ao nuôi.