Rủi ro tiềm ẩn từ xuất khẩu gỗ sang Trung Quốc

Số liệu tại Hội thảo “Thương mại gỗ Việt Nam – Trung Quốc 2012-2014: Thực trạng và giải pháp” diễn ra ngày 15-9 tại Hà Nội cho thấy năm 2014, giá trị kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm gỗ từ Việt Nam sang Trung Quốc đạt 845,1 triệu đô la Mỹ.
Tính riêng trong 6 tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu gỗ Việt Nam sang Trung Quốc đạt trên 425 triệu đô la Mỹ, cao thứ 2 trong nhóm các ngành hàng xuất khẩu sang Trung Quốc (chỉ sau sắn), trong đó chủ yếu là gỗ nguyên liệu gồm dăm gỗ, gỗ tròn, gỗ xẻ, ván bóc và đồ gỗ thủ công mỹ nghệ truyền thống.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Tôn Quyền, Tổng thư ký Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam (Vifores), thương mại các mặt hàng gỗ giữa hai quốc gia có những đặc điểm thể hiện tính rủi ro lớn nếu không có biện pháp điều chỉnh từ phía nhà nước.
Thứ nhất, theo ông Quyền, những sản phẩm xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu là các sản phẩm thô hoặc bán thành phẩm. Năm 2014 xuất khẩu gỗ sang Trung Quốc được gần 850 triệu đô la Mỹ thì có tới trên 700 triệu là sản phẩm thô như dăm mảnh, gỗ tròn, độ tinh chế rất ít, trong khi đó thị trường khác chủ yếu nhập khẩu sản phẩm hoàn chỉnh.
Bên cạnh mặt hàng gỗ dăm thì Trung Quốc lại có nhu cầu rất lớn đối với các loại gỗ quý hiếm và không yêu cầu về nguồn gốc gỗ hợp pháp, chứng chỉ rừng như những nước tiên tiến khác, trong khi gỗ quý hiếm là loại mặt hàng mà Việt Nam không khuyến khích khai thác và xuất khẩu. Hơn nữa, yêu cầu về mẫu mã, chứng chỉ rừng, chất lượng gỗ xuất sang Trung Quốc nhìn chung là rất dễ dãi.
Theo ông Quyền, gỗ Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc qua nhiều cửa khẩu khác nhau. Nếu như Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ, EU chủ yếu qua đường biển thì xuất khẩu sang Trung Quốc qua tới 19 cửa khẩu khác nhau từ của khẩu quốc tế, quốc gia, đường mòn lối mở…nên việc quản lý và thống kê thương mại gỗ gặp rất nhiều khó khăn dẫn tới có sự chênh lệch trong số liệu thống kê xuất nhập khẩu gỗ giữa hai nước.
Mặt khác, thị trường Trung Quốc thiếu tính ổn định, bền vững vì kim ngạch hàng năm luôn biến động, giá cao giá thấp, năm nhập nhiều, năm nhập ít gây khó khăn cho doanh nghiệp.
Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch Hiệp hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TP HCM (Hawa), cho hay ông đã có dịp gặp một quan chức lâm nghiệp Trung Quốc và ông này nói Trung Quốc đang mở ra con đường tơ lụa với mục tiêu thu gom nguyên liệu về Trung Quốc chế biến, nâng cao giá trị sản phẩm và làm giàu cho nước này. Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với ngành gỗ trong nước là làm thế nào để không rơi vào “bẫy con đường tơ lụa của họ”.
Các nhà quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp tại hội thảo đều đồng ý rằng, các doanh nghiệp xuất khẩu từng loại gỗ như gỗ dăm, gỗ quý, gỗ xẻ….cần phải tìm cách nâng cao giá trị của từng sản phẩm để xuất khẩu tạo ra giá trị gia tăng cao sang thị trường này.
Ông Tô Xuân Phúc,đại diện Forest Trends, cho biết do hội nhập nên thương mại gỗ giữa hai nước sẽ chịu nhiều tác động lớn từ các quy định mới trong khuôn khổ các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam vừa ký kết như Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)...
Theo đó, các doanh nghiệp của Việt Nam tiêu thụ các sản phẩm gỗ tại thị trường quốc tế, bao gồm cả thị trường Trung Quốc và thị trường nội địa, cần phải đưa ra những bằng chứng xác đáng về tính hợp pháp của nguồn gỗ nguyên liệu. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng cần phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định có liên quan đến chuỗi cung ứng.
“Điều này sẽ tạo ra những khó khăn lớn, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu các sản phẩm gỗ sang thị trường Trung Quốc,” ông Tô Xuân Phúc phân tích, nhưng cũng cho biết thêm rằng, bên cạnh đó đây cũng là cơ hội của ngành gỗ Việt Nam.
Ông Phúc cho hay, trong bối cảnh hội nhập đó, Chính phủ cần có các cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp có chiến lược sản xuất kinh doanh dài hạn, bền vững. Mặt khác, việc sắp xếp và tổ chức lại hình thức sản xuất kinh doanh cũng đồng nghĩa với việc siết chặt quản lý và loại bỏ dần các doanh nghiệp kinh doanh dựa trên những lợi ích ngắn hạn, khai thác tận kiệt tài nguyên, tranh thủ lao động giá rẻ và công nghệ chế biến lạc hậu.
“Đây là những thông điệp rất quan trọng đối với ngành gỗ, bao gồm cả các doanh nghiệp hiện đang trực tiếp tham gia vào thương mại gỗ và sản phẩm gỗ với thị trường Trung Quốc,” ông Tô Xuân Phúc nhấn mạnh.
Có thể bạn quan tâm

Ông Năm Nhãn thiết kế nền chuồng bằng xi măng, chung quanh được xây tường cao 1,5 m, trong chuồng được chia thành nhiều ô, mỗi ô có diện tích 1,5 m2, vách ngăn các ô được làm bằng lưới sắt. Nhím là loại ăn tạp nên không kén thức ăn, chủ yếu ăn rau, củ, quả và các sản phẩm nông nghiệp như: cám, gạo, bắp, khoai lang...

Ngày 16/1, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Văn Yên đã chủ trì cuộc họp với UBND huyện Đơn Dương, đại diện Cty sữa Đà Lạt Milk (nay là TH true Milk) nhằm kiểm tra, đánh giá và tìm biện pháp tháo gỡ những khó khăn mà ngành chăn nuôi bò sữa Lâm Đồng đang gặp phải trong thời gian gần đây.

Trước đây, kinh tế của gia đình chị Nguyễn Thị Hà (SN 1980) ở buôn Tung 1, xã Buôn Triết (huyện Lak, tỉnh Dak Lak) chỉ trông chờ vào mấy sào lúa nước, nhưng hằng năm thường bị hạn hán, lũ lụt nên năng suất bấp bênh, khiến cuộc sống gặp nhiều khó khăn.

Ngành nông nghiệp tỉnh khuyến cáo, để chủ động phòng, chống đói rét, bảo vệ an toàn cho đàn vật nuôi, người chăn nuôi cần che chắn chuồng gia súc, tránh gió lùa, không chăn thả gia súc khi nhiệt độ ngoài trời xuống quá thấp; đồng thời chăm sóc, nuôi dưỡng tốt đàn vật nuôi để nâng cao sức đề kháng. Nguồn thức ăn cần bảo đảm cân đối giữa tinh bột, chất đạm, chất khoáng để có đủ năng lượng chống rét. Ngoài ra, cần tiêm phòng vắc xin đầy đủ để tăng khả năng miễn dịch cho đàn vật nuôi.

Chúng tôi đến thăm gia đình ông Lang Khánh Suyên ở Thị trấn Kim Sơn khi gia đình ông chuẩn bị làm vía cho đứa cháu nội sắp đầy tháng. Dù đang bận bịu công việc, nhưng khi thấy những vị khách miền xuôi quan tâm nhiều đến con nhím, ông Suyên gác lại công việc và say sưa kể. Từ năm 2003, sau khi bán hết đàn trâu thả rông trong rừng, ông Suyên bắt đầu mày mò nuôi nhím.