Tinh Lọc Và Chọn Ra Những Dòng Cacao Chịu Mặn Cao

Bến Tre là địa bàn có diện tích trồng cacao lớn nhất nhì đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, tình trạng nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền do tác động của biến đổi khí hậu đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sản lượng cũng như chất lượng của cây cacao.
Trước thực trạng này, đòi hỏi ngành chức năng cần có những biện pháp hữu hiệu giúp người nông dân khắc phục khó khăn, tạo ra những giống cacao chịu được độ mặn cao nhưng vẫn đảm bảo về sản lượng, chất lượng.
Ở Bến Tre, quy trình kỹ thuật trồng cây cacao được phổ biến rộng rãi trong sản xuất chủ yếu áp dụng cho những vùng nước ngọt hoặc ít nhiễm mặn. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nước mặn đã xâm nhập sâu vào đất liền với độ mặn cao, vấn đề trở nên cần thiết, cấp bách đặt ra ở đây là cần có một quy trình kỹ thuật trồng cacao trên vùng đất nhiễm mặn.
Xuất phát từ vấn đề trên, Trung tâm Giống Nông nghiệp tỉnh đã tinh lọc và chọn ra nhiều bộ giống cacao chịu được độ mặn cao để trồng thực nghiệm trên những vùng đất có độ nhiễm mặn khác nhau. Theo đó, Trung tâm Giống Nông nghiệp tỉnh đã chọn ra 8 dòng cacao đang trồng phổ biến: TD3, TD5, TD6, TD7, TD8, TD9, TD10, TD11 và trồng thực nghiệm ở 4 vùng có độ mặn khác nhau, gồm: xã Quới Thành (Châu Thành) - đại diện vùng ngọt, không nhiễm mặn; xã Châu Hòa (Giồng Trôm) - đại diện vùng nhiễm mặn 2 phần ngàn; xã Tân Phú Tây (Mỏ cày Bắc) - đại diện vùng nhiễm mặn 3 phần ngàn; xã Bình Khánh Tây (Mỏ Cày Nam) - đại diện vùng nhiễm mặn 4 phần ngàn. Mỗi điểm trồng 268 cây cacao giống.
Ở thời điểm năm 2010, độ mặn cao nhất ghi nhận được tại điểm xã Bình Khánh Tây là 9 phần ngàn trong tháng 4 và tháng 5, độ mặn cao kế đến là ở điểm xã Tân Phú Tây vào tháng 4 là 7 phần ngàn, độ mặn thấp nhất là 2 phần ngàn tại xã Quới Thành. Do ảnh hưởng của nồng độ mặn cao, thời gian nhiễm mặn kéo dài, nên cây sinh trưởng chậm lại, đến đầu mùa mưa rải rác trong các lô thí nghiệm, một số cây cacao có hiện tượng rụng lá rồi chết.
Tỷ lệ cây chết giữa các lô, các giống không đồng đều nhau. Cụ thể: giống TD3, TD5, TD11: khả năng chịu đựng tốt, tỷ lệ chết dưới 10%; giống TD9, TD8: khả năng chịu đựng khá, tỷ lệ chết 10-20%; các giống còn lại có tỷ lệ chết từ 20 đến 30%; đối với lô trồng trong điều kiện đất cao, xa mương, tỷ lệ chết thấp.
Ở thời điểm năm 2011, diễn biến của yếu tố mặn cũng diễn ra tương tự như năm 2010, nhưng mức độ và thời gian nhiễm mặn ngắn hơn. Cụ thể ở điểm xã Bình Khánh Tây, độ mặn cao nhất trong tháng 4 cũng chỉ đạt khoảng 7 phần ngàn, thấp hơn khoảng 2 phần ngàn so với năm 2010, ở các điểm còn lại, độ mặn cũng giảm từ 1 đến 2 phần ngàn so với năm 2010. Do ảnh hưởng mặn không nghiêm trọng như năm 2010 nên trong mùa khô năm 2011, không có hiện tượng rụng lá rồi chết cây.
Thạc sĩ Võ Hoài Chân - Phó Giám đốc Trung tâm Giống Nông nghiệp tỉnh cho biết: Mỗi dòng cacao trồng thực nghiệm đều có những ưu điểm cũng như đặc tính khác nhau. Kết quả thực nghiệm cho thấy, cây cacao có thể chịu mặn đến khoảng 7 phần ngàn trong thời gian mùa khô kéo dài từ 1 đến 2 tháng. Ở nồng độ mặn từ 7 đến 9 phần ngàn, cây chỉ chịu đựng được trong thời gian ngắn, nếu kéo dài cây sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng và có khả năng bị chết. Ở nồng độ mặn trên 9 phần ngàn, cây bị cháy lá nặng, có thể làm chết cây (ở nồng độ mặn này không có giống cây nào không bị ảnh hưởng).
Có thể nói, 9 phần ngàn là ngưỡng mặn cao nhất mà cây có thể chịu đựng, nồng độ mặn 9 phần ngàn kéo dài trong 1 tháng làm cây bị chết. Ở độ mặn như thế, giống TD11, kế đến là 2 giống TD3 và TD10 là các giống có nhiều ưu thế qua kết quả thực nghiệm. Đặc tính của các dòng cacao này đều có những ưu điểm là cây cho trái sớm, đậu trái sai thường xuyên, tỷ lệ hạt chắc cao, hạt to, chín sớm, tán gọn và cây chịu bóng râm.
Như vậy, để giúp người nông dân ứng phó với biến đổi khí hậu, Trung tâm Giống Nông nghiệp tỉnh đã tinh lọc và chọn ra được 3 dòng cacao có khả năng chịu được độ mặn cao. Điều này không chỉ có ý nghĩa về sự thành công trong việc ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp mà nó còn góp phần giúp nông dân an tâm sản xuất, ổn định kinh tế gia đình.
Có thể bạn quan tâm

Đồng Tháp là tỉnh có nhiều tiềm năng về kinh tế. Ngoài sản lượng lúa ổn định hàng năm trên 2,8 triệu tấn, thủy sản là thế mạnh thứ hai với chủ lực là con cá tra, mỗi năm xuất khẩu sản phẩm đông lạnh trên dưới 120.000 tấn. Những năm gần đây, con tôm càng xanh được lãnh đạo các địa phương quan tâm với mô hình nuôi trên ruộng lúa mùa nước nổi. Diện tích nuôi tôm ngày càng gia tăng. Giá trị kinh tế từ con tôm càng xanh ngày càng được khẳng định.

Những năm gần đây, mô hình nuôi chồn hương được các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh đầu tư, nhưng nếu chỉ nuôi đơn thuần chồn hương lấy thịt thì hiệu quả không cao. Tại xã Minh Lập (Chơn Thành - Bình Phước), anh Đặng Ngọc Tuân đã gây dựng mô hình nuôi chồn hương lấy thịt, giống, đặc biệt kết hợp sản xuất cà phê chồn mang lại tiền tỷ.

Điều kiện môi trường bất lợi, hàng trăm người nuôi tôm ở phường 12 (TP. Vũng Tàu) đã bỏ nghề, nhưng nhiều năm nay, tại ao nuôi của ông Lê Quang Hùng guồng quay máy sục khí vẫn hoạt động bền bỉ. Ao nuôi tôm của ông là một trong số ít những điểm sáng trên vùng đất nuôi thủy sản đã bỏ hoang nhiều năm của khu vực này.

Sở Khoa học và Công nghệ Long An vừa tổ chức hội nghị nghiệm thu kết quả điều tra “Tình hình chăn nuôi, đặc điểm ngoại hình gà tàu và đề xuất quy trình chăn nuôi gà tàu theo hướng an toàn sinh học sẽ thực hiện từ nay đến tháng 10/2013 tại huyện Châu Thành, tỉnh Long An” đây là giai đoạn 1 của đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu xây dựng mô hình chăn nuôi gà tàu theo hướng an toàn sinh học tại huyện Châu Thành, tỉnh Long An” do phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Châu Thành đăng ký chủ trì thực hiện; tiến sĩ Đoàn Đức Vũ giám đốc Trung tâm Công nghệ Sinh học Nông nghiệp thuộc Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam và kỹ sư Nguyễn Thị Đậm trưởng phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Châu Thành làm chủ nhiệm đề tài.

Từ lâu, các nhà khoa học đã khuyến cáo nông dân nên chuyển sang trồng các loại rau màu hoặc luân canh lúa màu trên đất lúa kém hiệu quả.