Nông dân Việt xứng đáng trụ cột đất nước

Và ngay sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 69 thành lập Bộ Canh nông (tiền thân của Bộ NNPTNT ngày nay) với nhiệm vụ giải quyết nạn đói và soạn thảo một chương trình phát triển nông nghiệp toàn diện phục vụ cho công cuộc kháng chiến kiến quốc, giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.
70 năm đã đi qua, nhiệm vụ đó đến nay các thế hệ cán bộ, công chức và người lao động toàn ngành nông nghiệp vẫn tiếp nối và phát huy nhằm thực hiện kỳ được lời dạy của Hồ Chủ tịch “Nông dân ta giàu thì nước ta giàu, nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”.
Trở thành nước xuất khẩu nông nghiệp mạnh
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đến nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thể hiện qua việc đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Nhờ vậy, nông nghiệp, nông thôn nước ta đã có bước phát triển vượt bậc.
Từ một nước nông nghiệp lạc hậu “tự cung tự cấp”, hàng năm phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực thì dự kiến năm 2015 sản lượng lương thực có hạt bình quân đầu người đạt 550kg/người.
Không chỉ bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu lương thực lớn trên thế giới, với sản lượng trung bình từ 6-7 triệu tấn gạo/năm, đứng vào “tốp đầu” của các nước xuất khẩu gạo của thế giới.
Năm 2015, tốc độ tăng GDP ngành nông lâm thủy sản ước đạt 2,21%, bình quân giai đoạn 2011 - 2015 tăng 3,12%/năm, đạt mục tiêu Đại hội XI và vượt chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra (2,6 - 3%); giá trị sản xuất nông lâm thủy sản ước tăng 2,39%; bình quân 2011 - 2015 tăng khoảng 3,52%/năm.
Năng suất lao động bình quân đạt 30 triệu đồng/lao động; kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản ước đạt 30 tỷ USD, tăng 9 tỷ USD so với chỉ tiêu 21 tỷ USD đề ra.
Có 10 mặt hàng đạt mức kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD như gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, điều, sắn, hoa quả, gỗ và sản phẩm từ gỗ, tôm, cá tra.
Nhiều chỉ tiêu quan trọng đã vượt hoặc đạt kế hoạch đề ra như sản lượng lương thực có hạt, lúa, các cây công nghiệp dài ngày, thủy sản, lâm sản, kim ngạch xuất khẩu.
Nông nghiệp phát triển, thu nhập của nông dân đã được cải thiện đáng kể.
Về cơ bản, Việt Nam đã xóa được đói.
Tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực nông thôn giảm bình quân 1,75%/năm; năm 2015, ước tỷ lệ hộ nghèo nông thôn (theo chuẩn nghèo mới) còn 9,3% và ở các huyện nghèo 30a khoảng 30%, giảm 1,5% so với năm 2014. Đây cũng là một trong những thành tựu được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào rộng khắp trong cả nước, được cả hệ thống chính trị và người dân đồng tình hưởng ứng.
Với nhiều cách làm sáng tạo, nhiều nguồn lực đã được huy động để xây dựng nông thôn mới, nhờ đó diện mạo của nhiều vùng nông thôn nước ta đổi mới, đời sống tinh thần và vật chất của người dân được nâng lên.
Đến cuối năm 2015 có khoảng 1.500 xã (chiếm 16,8% số xã) và 9-10 huyện, thị xã đạt chuẩn nông thôn mới.
Lấy thực tiễn từ ruộng đồng
Ngày 18.6.1945, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 890 về việc lấy ngày 14.11 hàng năm là “Ngày truyền thống ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam”.
Phát huy truyền thống 70 năm qua, ngành nông nghiệp chủ trương tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ hơn trên thực tế về CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn, phát huy cao hơn lợi thế sẵn có của đất nước về nông nghiệp, đồng thời chú trọng phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ phục vụ nông nghiệp.
Mặt khác, vẫn phải ưu tiên phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động để tạo việc làm cho dân.
“Nước ta đang có 25 triệu người làm nông nghiệp là quá nhiều.
Để xây dựng nền nông nghiệp hiện đại năng suất cao, ít nhất 2/3 số lao động nông nghiệp hiện nay cần được chuyển sang ngành nghề khác.
Những người ở lại nông nghiệp cần được chuyên nghiệp hóa, được hỗ trợ liên kết hợp tác sản xuất hàng hóa, hình thành các tổ hợp nông nghiệp – công nghiệp chế biến hiện đại, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu”- ông nói.
Cũng theo ông Phát, ngành nông nghiệp xác định luôn gắn bó máu thịt với bà con nông dân, với thực tiễn, với ruộng đồng để tham mưu về các chủ trương chính sách cũng như đề ra các giải pháp giải quyết kịp thời hiệu quả các vấn đề đặt ra; luôn chú trọng động viên khuyến khích và song hành cùng với bà con nông dân, với các doanh nghiệp nông nghiệp.
Có thể bạn quan tâm

Nằm trong dự án phát triển nông thôn trong giai đoạn hiện nay, xã Hùng Lô được UBND thành phố Việt Trì (Phú Thọ) đầu tư dự án nuôi thí điểm gà ri lai thả đồi, vườn. 35 hộ trải đều ở 10 khu dân cư trong xã được lựa chọn mô hình nuôi gà thí điểm, đó là những hộ có diện tích đồi, vườn phù hợp, có nhân công lao động, nhiệt huyết chăn nuôi, kinh tế ổn định. Với tổng đàn 7000 con gà 1 ngày tuổi, bình quân 200 con/hộ, các hộ chăn nuôi được hỗ trợ 100% con giống, 30% thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y trong thời gian 4 tháng khi gà đảm bảo thời gian xuất bán.

Phải thuyết phục nhiều lần, chị Thắm (một tiểu thương chuyên kinh doanh trái cây ở chợ đầu mối Bình Điền, TP HCM) mới cho tôi tháp tùng nhóm người làm công của chị xuống Cái Bè (tỉnh Tiền Giang) và Cái Mơn (tỉnh Bến Tre) để thu mua sầu riêng, chuối, mít chở lên TP HCM bán.

Huyện Gò Công Đông (Tiền Giang) có diện tích nuôi nghêu khoảng 2000 ha, tập trung ở các cồn Vạn Liễu, cồn Ông Mão, ấp Cây Bàng, Cầu Muống và Tân Phú thuộc xã Tân Thành, hàng năm ngư dân thu hoạch từ 20.000 - 30.000 tấn nghêu thương phẩm đem lại lợi nhuận rất lớn cho ngư dân vùng biển, riêng Ban Quản lý cồn bãi trực thuộc UBND huyện, quản lý, nuôi và khai thác 350 ha thuộc khu vực cồn Ông Mão, hàng năm từ nguồn thu hoạch nghêu, thu về cho ngân sách huyện chiếm gần 50%.

Phòng Kinh tế hạ tầng và Trạm Khuyến nông - Khuyến ngư huyện Đồng Xuân (Phú Yên) vừa phối hợp tổ chức tổng kết mô hình chăn nuôi heo rừng lai tại xã Xuân Quang 3 và thị trấn La Hai.

Năm 2013, toàn tỉnh Nam Định có 486ha nuôi tôm chân trắng, tăng 188ha so với năm 2012, hình thành nhiều vùng nuôi tập trung tại các huyện Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng. Các vùng nuôi cơ bản đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật như hệ thống thủy lợi, cơ sở hạ tầng kỹ thuật.