XK Gạo: Nên Bỏ Lượng, Theo Chất

Trước hết là do thế giới được mùa lương thực. Lúa mì, lúa gạo, sắn và hầu hết các loại ngũ cốc đều giảm giá. Trước đó, năm 2011, khi giá gạo biến động tăng thì nhiều nước đã NK với số lượng lớn khiến tồn kho cuối năm nhiều. Theo dự báo nhu cầu NK gạo trong năm 2012 sẽ giảm. Với Việt Nam là cường quốc XK gạo thứ 2 thế giới, khi thế giới giảm nhu cầu NK gạo thì chắc chắn chúng ta sẽ gặp khó khăn.
Điều bất ngờ nhất trên thị trường lúa gạo thế giới là, tính về khối lượng XK trong 2 tháng đầu năm 2012, Việt Nam đã bị đẩy xuống vị trí thứ 4. “Tuy nhiên điều này chưa đáng lo, tình hình có thể được cải thiện trong thời gian tới. Bởi vì, theo số liệu thống kê mới đây của VFA, tiến độ XK gạo của Việt Nam sang thị trường châu Phi đã khả quan hơn. Thứ hai, Philippines là bạn hàng NK gạo lớn của Việt Nam trong nhiều năm qua sắp trở lại thị trường, vì mùa mưa bão đang đến rất gần, buộc họ phải NK trước thời điểm bão đến. Khi đó, gạo phẩm cấp thấp (25% tấm) sẽ có thị trường tiêu thụ tốt hơn”, ông Bích dự báo.
Theo vị chuyên gia này, nhu cầu gạo phẩm cấp thấp trong những năm vừa qua rất lớn, cho nên Việt Nam đã phát triển những giống lúa chất lượng thấp nhưng đạt năng suất cao. Nhưng năm 2012, nhu cầu gạo phẩm cấp thấp sẽ giảm, tỉ lệ gạo chất lượng cao sẽ tăng lên. Ông Bích khuyến cáo rằng, DN cũng như nông dân nước ta cần bám sát theo những “tín hiệu” của thị trường, để chuyển đổi mô hình sản xuất cho phù hợp.
Trong năm 2011, XK gạo thơm của chúng ta đã tăng khá, tỉ lệ gạo phẩm cấp cao cũng sẽ dần tăng lên. Với gạo thơm XK sang thị trường Hồng Kông, dù chất lượng có thể thấp hơn so với các nước khác trong khu vực, nhưng chúng ta có lợi thế là giá rất cạnh tranh. Cho nên, gạo của chúng ta vẫn có thể chiếm lĩnh được tại những thị trường này. Vấn đề quan trọng nhất bên cạnh chất lượng là giá thành. Do đó, khi hướng đến sản xuất gạo phẩm cấp cao, Việt Nam vẫn có “cửa” để XK, chứ không đến mức không thể cạnh trạnh được.
Còn theo ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NN-PTNT), sản lượng lương thực của nước ta liên tục tăng cao. Bình quân trong giai đoạn 2001-2011, mỗi năm chúng ta tăng 1,27 triệu tấn lương thực có hạt. Nhờ vậy, mặc dù dân số tăng nhanh, nhưng bình quân lương thực đầu người từ mức 435 kg năm 2001 đã tăng lên đạt 529 kg trong năm vừa qua. Tuy nhiên, ông Ngọc nhận định, sản lượng lúa gạo tăng đã đạt đỉnh, tương lai khó có thể tăng hơn nữa, vì trồng lúa đang đối mặt với nhiều thách thức. Diện tích trồng lúa đang bị đe dọa giảm dưới sức ép phải nhường đất cho công nghiệp hóa. Diện tích đất trồng lúa bình quân đầu người rất thấp (chỉ 600 m2/người), sản xuất manh mún nên rất khó áp dụng cơ giới hóa để tăng năng suất.
Giải pháp tối ưu nhất hiện nay trong SX lúa gạo phục vụ XK là “cánh đồng mẫu lớn”. Từ mô hình này, chúng ta hoàn chỉnh được hệ thống thủy lợi và giao thông, mỗi cánh đồng chỉ sử dụng 1-2 giống lúa, áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật trong canh tác và thu hoạch...”, ông Nguyễn Trí Ngọc.
Khối lượng gạo hàng hóa XK tuy lớn, nhưng do 1 triệu hộ nông dân sản xuất với vô vàn giống khác nhau, khó kiểm soát chất lượng và độ thuần nhất về chủng loại sản phẩm. “Vấn đề nan giải nhất trong chuỗi giá trị của ngành hàng lúa gạo là có quá nhiều khâu trung gian. Lúa xuất bán từ nông dân đến các DN XK phải qua tay quá nhiều thương lái, họ đã lấy đi phần lớn lợi nhuận của nông dân, khiến nông dân được hưởng thù lao rất thấp”, ông Ngọc nhận xét.
Tại hội thảo, hầu hết các chuyên gia đều cho rằng, sản lượng lương thực nước ta khó tăng lên được nữa. Trong khi đó, những năm tới và ngay cả trong năm 2012, nhiều nước NK gạo lớn sẽ gia tăng đầu tư để sản xuất lúa của họ, giảm dần khối lượng NK. Vì vậy chiến lược của ngành hàng lúa gạo không nên tiếp tục đi theo hướng mở rộng khối lượng XK, mà cần tập trung vào tăng chất lượng để nâng cao giá bán, đồng thời cơ cấu lại chuỗi tiêu thụ lúa gạo để tăng lợi nhuận cho nông dân. Có như vậy, sản xuất và tiêu thụ lúa gạo mới bền vững và ổn định lâu dài.
Related news

Chiều 27-11, đại diện Công ty Nhiệt Đới (Bến Tre) cho biết, trái nhãn trồng trên cù lao An Hòa (thuộc xã An Nhơn, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp) vừa được cơ quan chức năng nước Mỹ cấp mã code nhập khẩu vào thị trường nước này, với tên gọi “Nhãn IDO Việt Nam”. Đầu tháng 12-2014 tới, công ty Nhiệt Đới sẽ xuất khẩu lô nhãn đầu tiên (hơn 2 tấn) vào thị trường Mỹ.

Theo đó, nông dân tham gia sản xuất trên tinh thần tự nguyện, đồng thời được hỗ trợ kỹ thuật canh tác, cơ sở vật chất khâu thiết kế vườn trong quá trình thực hiện. Dự kiến tổng kinh phí từ khi thực hiện đến được công nhận khoảng 180 triệu đồng, do Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh hỗ trợ.

Qua thông tin đại chúng được biết nhiều hộ gia đình đã làm giàu từ cây cam, quýt và nhất là nhận thấy đất đai, khí hậu tại địa phương tương đối phù hợp nên trong những năm qua, gia đình ông Nông Thanh Bộ, thôn Nà Nưa, xã Cường Lợi đã mạnh dạn mở rộng diện tích trồng loại cây này.

Anh Phạm Văn Tiến 37 tuổi là nông dân đầu tiên ở xã Nhị Hà (huyện Thuận Nam, Ninh Thuận) áp dụng mô hình tưới phun tiết kiệm nước trên cây nho. Vườn nho nhà anh Tiến trải cành xanh mướt giữa mùa khô hạn. Tưới phun tiết kiệm nước, vốn đầu tư thấp đem lại hiệu quả kinh tế cao đang được nhiều nông hộ học tập làm theo.

Thực tế cho thấy, việc thương lái thu mua nông sản khi vừa được nhà vườn xuống giống vài tuần tại Đà Lạt là một loại giao dịch trong làm ăn rất phổ biến. Hồi đầu năm nay, nhiều thương lái cũng đã thu mua cải thảo theo hình thức này, sau đó cải thảo mất giá, tiền thu hoạch không đủ chi phí thuê nhân công nên họ đã phải để nhà vườn phá bỏ, chấp nhận mất trắng tài sản.