Mãi Xanh Làng Chè Chu Hưng

Về thăm làng chè Chu Hưng – xã Ấm Hạ (huyện Hạ Hòa), chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng trước những đồi chè bạt ngàn, xanh mướt, uốn lượn tựa như những dải lụa đào. Đã từ bao đời nay bên cạnh cây lúa, sắn, cây chè gắn bó với người dân nơi đây trong phát triển kinh tế, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, đến nay cây chè vẫn mang sức sống và là cây trồng chủ đạo trong phát triển kinh tế ở địa phương.
Ông Nguyễn Thành Vinh - Trưởng làng nghề cho biết: "Làng chè Chu Hưng được công nhận làng nghề năm 2008. Làng nghề bao gồm các khu dân cư 5, 7, 8 hợp thành với tổng diện tích tự nhiên là 315ha. Làng có 281 hộ sinh sống, trong đó số hộ tham gia sản xuất chè là 97 hộ và số lao động là 141 người.
Tổng diện tích chè của cả làng là 30ha chè, nhiều năm nay năng suất bình quân đạt 15 tấn/ha, sản lượng chè búp tươi đạt khoảng 450 tấn/năm". Ông Vinh còn cho biết thêm: "Có được kết quả đó do nhiều năm nay làng nghề có sự đầu tư hơn về giống, kỹ thuật, do đó năng suất và sản lượng đang có chiều hướng tăng lên đáng kể".
Cây chè được trồng ở đây từ rất lâu đời, song để là cây trồng thế mạnh của người dân địa phương phải trải qua quá trình dài đầu tư, đổi mới quy trình sản xuất. Với diện tích lớn đất tự nhiên là đồi, người dân có thế mạnh trong việc phát triển các cây chè, sắn, lâm nghiệp.
Trước đây do nhiều yếu tố người dân chỉ trồng chè với quy mô nhỏ, việc áp dụng khoa học kỹ thuật còn hạn chế, chè chủ yếu trồng giống trung du, trồng bằng hạt, kỹ thuật đốn, hái, bón phân, nhất là sử dụng thuốc BVTV tùy tiện nên năng suất thấp phổ biến 5-6 tấn/ha, chất lượng chè hạn chế, chủ yếu chế biến chè xanh bán các chợ. Từ khi tỉnh, huyện Hạ Hòa lựa chọn đưa cây chè trở thành cây mũi nhọn, cây chè mới được quan tâm đúng mức.
Đặc biệt từ khi thành lập, được công nhận làng nghề cho tới nay làng chè đã có những bước phát triển mới. Quy mô trồng chè được mở rộng, từ trên chục ha nâng dần lên 20 bây giờ là 30ha, những đồi chè giống cũ được thay bằng giống chè mới chủ yếu là chè lai do Viện Nghiên cứu khoa học kỹ thuật miền núi phía Bắc lai tạo, chuyển giao.
Cùng với đó kỹ thuật chăm sóc, đốn, tỉa, hái được áp dụng vào sản xuất, trong đó đặc biệt kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV phun đúng lúc, đúng thuốc trong danh mục nên cây chè không những cho năng suất cao, chất lượng đảm bảo. Cây chè từ chỗ là cây trồng phụ dần trở thành cây trồng mũi nhọn trong phát triển kinh tế của người dân địa phương, góp phần quan trọng đảm bảo cuộc sống cho các hộ gia đình.
Bà Quách Thị Kim Thanh- một trong những người gắn bó lâu năm với cây chè ở Chu Hưng chia sẻ: "Gia đình tôi hiện có 2ha chè, bao gồm cả chè hạt và chè cành, năng suất đạt 14–15 tấn/ha, sản lượng chè búp tươi mỗi năm khoảng 30 tấn, với giá bán chè tươi khoảng 3-4 ngàn đồng, thu nhập của gia đình mỗi năm gần 100 triệu. Đây là nguồn thu chính của gia đình, đảm bảo cuộc sống ổn định và phát triển".
Trước đây kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn, nhưng nhờ đầu tư phát triển cây chè mà giờ đây cuộc sống gia đình khấm khá hơn, có của ăn của để". Không chỉ bà Thanh mà những người dân trong làng đều làm giàu từ cây chè, nhiều hộ thu nhập lên đến 150 triệu/năm.
Bộ mặt kinh tế của Chu Hưng ngày càng thay đổi theo hướng tích cực. Cây chè không những tạo thu nhập cho người dân trong làng mà còn tạo việc làm cho nhiều lao động khu vực. Mỗi mùa thu hoạch chè, người dân phải thuê thêm lao động ở vùng khác, tạo công ăn việc làm cho rất nhiều lao động ở các vùng lân cận.
Tuy đã phát triển khá nhưng làng chè Chu Hưng vẫn còn trăn trở trước những khó khăn gặp phải. Trước hết là khoa học, kỹ thuật phục vụ sản xuất còn hạn chế, mặc dù có nhiều tiến bộ so với trước đây, nhưng so với yêu cầu nâng năng suất vài chục tấn/ha, chất lượng chè sạch, chè an toàn, xây dựng thương hiệu chè vẫn còn những bất cập.
Một vấn đề nữa là thiếu vốn đầu tư vì vậy diện tích chè chưa được mở rộng. Đặc biệt đầu ra của sản phẩm chưa đảm bảo, giá chè còn bấp bênh, thị trường có nhiều biến động ảnh hưởng đến tâm lý người sản xuất. Mặc dù gặp phải rất nhiều khó khăn nhưng người dân vẫn gắn bó thuỷ chung với cây chè và tìm hướng đi mới.
Người dân địa phương đã mạnh dạn đầu tư, chăm sóc chè, áp dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật, mở rộng quy mô, gắn trồng chè với chế biến để nâng cao giá trị, hiệu quả cây chè. Ông Nguyễn Văn Long - một người dân trong làng cho biết: "Gia đình tập trung chủ yếu vào đồi chè để phát triển kinh tế, đồng thời gia đình cũng mở một xưởng chế biến chè để phục vụ nhu cầu tại chỗ của người dân trong làng".
Việc trồng chè gắn với chế biến tại chỗ là hướng đi hiệu quả. Ngoài ra, từ khi được công nhận làng nghề đến nay, trưởng làng chè và các hộ dân trồng nhiều chè thường xuyên trao đổi, áp dụng giống mới, các phương pháp chăm sóc đạt hiệu quả và năng suất cao hơn. Giữ gìn và phát huy thương hiệu của làng nghề, đồng thời liên hệ với bên ngoài để đảm bảo đầu ra cho chè, giúp người dân phát triển kinh tế bền vững.
Nguồn bài viết: http://baophutho.vn/kinh-te/nong-lam-nghiep/201412/mai-xanh-lang-che-chu-hung-2380056/
Related news

Trò chuyện với anh nông dân 42 tuổi đời, có hơn 20 năm gắn bó với nghề trồng nho, chúng tôi được biết, anh là nhóm trưởng gồm 10 thành viên liên kết trồng trên 1,1 ha nho an toàn thôn An Thạnh 1. Nhóm thành lập từ vụ hè-thu 2014, DASU huyện Ninh Phước hỗ trợ phân bón, thuốc sinh học phòng trừ bệnh hại, hướng dẫn kỹ thuật canh tác cây nho theo quy trình an toàn.

Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật theo hướng công nghệ cao để tăng năng suất và hướng đến mục tiêu giảm giá thành sản xuất từ 15 - 20% so với cách sản xuất thông thường. Hỗ trợ đầu tư, cải tiến cơ giới hóa và các công nghệ sau thu hoạch trong sản xuất bắp lai.

Trước đó, đầu tháng 1/2015, trong quá trình lấy mẫu kiểm dịch cho hàng nông sản nhập khẩu, Cục Kiểm dịch thực vật vùng I (Cục Bảo vệ thực vật) đã phát hiện 8 lô hàng với 35 container (gần 700 tấn) lạc nhân nhập khẩu từ Ấn Độ qua cảng Hải Phòng có chứa mọt lạc serratus.

Ông Shuntaro Ise, Phó chủ tịch Tập đoàn ISE Food cho biết, ISE Food tại Nhật đã hình thành được hơn 100 năm qua và hiện là tập đoàn có lượng gà đẻ trứng lớn nhất thế giới. Chỉ riêng tại Nhật, ISE Food có các trang trại với khoảng 120 triệu con gà đẻ trứng, và ở Mỹ có trang trại 12 triệu con.

Gia đình anh Phúc có 3 công ruộng ở vị trí không được tốt nên hiệu quả canh tác lúa không cao, anh phải tìm kế sản xuất (SX) khác để nuôi sống 4 miệng ăn. Tình cờ anh xuống thăm mấy người bạn ở Cà Mau, thấy mô hình nuôi cá bống tượng nên về làm thử. Nào ngờ, con cá bống tượng làm vợ chồng anh bao phen hoảng hồn, do cá chết hàng loạt mà không biết nguyên nhân. Rồi anh kiên nhẫn học hỏi kinh nghiệm, tìm tài liệu nghiên cứu. Từ chỗ nuôi lỗ, anh hòa vốn và có lời.