Chất Lượng Cà phê Giảm Do Thiếu Sân Phơi

Tỉnh Đắk Lắk là địa phương trọng điểm càphê của cả nước nhưng hiện nay đang diễn ra tình trạng thiếu sân phơi nghiêm trọng, không những gây thất thoát sau thu hoạch mà còn góp phần làm giảm chất lượng càphê xuất khẩu.
Qua điều tra của các cơ quan chức năng cho thấy, trong chế biến khô (chủ yếu ở các nông hộ sản xuất kinh doanh càphê ở Đắk Lắk), sân phơi là yếu tố quan trọng nhất, theo tính toán, bình quân một hécta càphê cần 99 mét vuông sân phơi. Thế nhưng, hiện nay, ở tỉnh Đắk Lắk chỉ có khoảng 20% nông hộ sản xuất kinh doanh càphê phơi hoàn toàn trên sân ximăng và 0,2% số hộ sử dụng máy để sấy quả càphê.
Các nông hộ sản xuất kinh doanh càphê còn lại chủ yếu là phơi càphê trên sân đất hoặc kết hợp giữa sân đất với bạt, sân gạch.
Các vùng trọng điểm càphê của tỉnh như Cư M’Gar, Krông Năng, Krông Búk, Ea H’Leo, thị xã Buôn Hồ, Krông Pắk trong thời điểm thu hoạch rộ cũng do thiếu sân phơi nên lưu giữ quả tươi trong bao bì, hoặc ủ thành đống từ 6 đến 7 ngày. Cá biệt có những hộ lưu giữ trên 10 ngày.
Việc phơi càphê trên sân đất cũng như ủ quả càphê lâu đã gây ảnh hưởng trầm trọng đến chất lượng sản phẩm càphê nhân, nhất là các quả càphê xanh, non được thu hoạch lẫn lộn, sau khi ủ đều làm tăng tỷ lệ hạt đen, hạt nâu.
Mặt khác, ở Đắk Lắk, các nông hộ sản xuất kinh doanh càphê cũng thực hiện nhiều biện pháp phơi càphê để cho mau khô như phơi nguyên quả, xát dập trước khi phơi.
Cụ thể, trên địa bàn tỉnh hiện nay có trên 44% số hộ sau khi thu hoạch về sau đó phơi nguyên quả càphê trên sân đất, 40% số hộ kết hợp vừa phơi nguyên quả vừa xát dập và có 4% số hộ là xát dập càphê hoàn toàn trước khi phơi.
Cũng theo các cơ quan chức năng, việc xát dập càphê trước khi phơi có ưu điểm là rút ngắn thời gian phơi nhưng lại dễ làm càphê mất phẩm cấp sản phẩm càphê nhân.
Cũng chính do các nông hộ sản xuất kinh doanh càphê ở Đắk Lắk triển khai thu hoạch bằng cách tuốt đều từ quả chín, xanh non lẫn lộn cộng với việc phơi quả càphê trên sân đất nên tỷ lệ hạt đen, nâu, lỗi càng nhiều làm giảm giá trị gia tăng của sản phẩm càphê.
Tỉnh Đắk Lắk hiện có trên 195.000 hécta càphê, sản lượng mỗi năm đạt trên 400.000 tấn càphê nhân, trong đó 85% diện tích là của các nông hộ.
Thiết nghĩ, tỉnh cần sớm có đề án, giải pháp nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện cho các nông hộ vay vốn ngân hàng đầu tư thâm canh phát triển bền vững cây càphê, trong đó có việc đầu tư xây dựng sân phơi nhằm góp phần nâng cao chất lượng càphê xuất khẩu để tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn./.
Related news

Cục Chế biến Nông Lâm Thủy sản và Nghề muối (Bộ NN&PTNT) phối hợp với Tổng cục Thủy sản, Hội Nghề cá Việt Nam và Hiệp hội Cá tra Việt Nam vừa tổ chức Hội nghị Phổ biến quy định của các thị trường xuất khẩu thủy sản năm 2014.

Vài năm trở lại đây, nông dân trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất, xây dựng các mô hình kinh tế mang lại hiệu quả rõ rệt. Mô hình nuôi chim cút của gia đình anh Nguyễn Văn Tình, ở thôn An Bình, xã Gio An, huyện Gio Linh là một minh chứng cho điều đó.

Thống kê của Trạm Thú y huyện, tổng đàn heo hiện có của huyện gần 14.000 con. Nhiều hộ nuôi heo cho biết, thời gian này rất thích hợp cho việc tái đàn để phục vụ thị trường sắp tới. Tuy nhiên, số lượng con giống ở địa phương đang khan hiếm và dự báo sẽ tăng giá, người nuôi sẽ đầu tư chi phí cao, ảnh hưởng đến lợi nhuận khi xuất chuồng.

Thời tiết khô hạn kéo dài ảnh hưởng đến sản xuất và chăn nuôi trên diện rộng. Trước thực trạng đó, nông dân địa phương đã có nhiều phương án nhằm giảm thiểu tối đa thiệt hại trong sản xuất, như: chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng diện tích cây hoa màu, đậu các loại; chủ động di chuyển đàn gia súc từ vùng cao xuống đồng bằng, nhằm tận dụng nguồn nước và các loại phụ phẩm nông nghiệp.

Mô hình liên kết sản xuất cà chua bi được triển khai thực hiện vào vụ Đông năm 2013 tại xã Mộc Bắc, huyện Duy Tiên (Hà Nam). Đây là địa phương đầu tiên được UBND tỉnh chọn xây dựng thí điểm mô hình liên kết sản xuất cà chua bi, do Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Chế biến nông sản Hội Vũ cung ứng và bao tiêu sản phẩm.