Phòng trị bệnh dịch tả lợn

"Khi thấy lợn có triệu chứng của bệnh dịch tả, phải nhanh chóng cách ly ra khu vực riêng và báo ngay cho thú y hoặc chính quyền địa phương để được hướng dẫn biện pháp xử lý thích hợp."
Dịch tả là một trong số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở lợn, gây nhiều thiệt hại về kinh tế. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi của lợn, gây tỷ lệ chết cao nếu không xử lý kịp thời và đúng cách.
Cần thường xuyên vệ sinh truồng trại - Ảnh: Trần Việt
Nguyên nhân gây bệnh
Dịch tả lợn do một loại virus Pestivirus, họ Flaviridae, nhóm Pestisvirrus gây nên. Khi xâm nhập vào cơ thể lợn, virus có thể tồn tại và phát triển ở tất cả các tổ chức mô và các cơ quan của lợn. Virus được đào thải ra ngoài môi trường qua dịch bài tiết nước tiểu, sữa, nước bọt và phân… Ở ngoài tự nhiên, khi nhiệt độ dưới 300C, virus sống và gây độc lực trong nhiều ngày nhưng dưới ánh sáng trực tiếp của mặt trời thì chúng tồn tại không quá 10 giờ.
Bệnh có thể xảy ra quanh năm, đặc biệt vào những lúc giao mùa và mùa rét. Nguồn bệnh nguy hiểm nhất là lợn ốm và lợn chết do dịch tả. Mầm bệnh có thể lây lan qua nhiều đường khác nhau như chất thải, máng ăn, hô hấp, qua tiếp xúc trực tiếp… hoặc từ lợn nái sang bào thai, hoặc từ lợn mẹ qua sữa lây sang lợn con. Bệnh có tính dịch cao, lây nhanh.
Triệu chứng
Thời gian ủ bệnh 2 - 8 ngày hoặc có thể dài hơn tùy thuộc vào độc lực của virus và sức đề kháng của con vật. Rất ít khi kéo dài quá 12 ngày. Bệnh có thể xuất hiện ở các thể sau:
Thể quá cấp: Lợn đang khỏe bỗng nhiên ủ rũ, bỏ ăn, sốt cao 41 - 430C. Ở chỗ da mỏng như: bẹn, bụng có những nốt đỏ sau chuyển màu tím. Bệnh tiến triển 1 - 2 ngày con vật giãy giụa rồi chết, tỷ lệ chết tới 100%. Thể này thường thấy ở lợn con, lợn con có thể chết mà không biểu hiện triệu chứng lâm sàng.
Thể cấp tính: Triệu chứng bệnh giống như thể quá cấp nhưng nhẹ hơn. Lợn chậm chạp, nằm đè lên nhau, kém ăn rồi bỏ ăn, thân nhiệt tăng dần từ 390C đến 41 - 420C. Sau 1 - 3 ngày, khi thân nhiệt đạt 40,5 - 410C, lợn tìm chỗ nằm, run rẩy, khó thở, chân bị co cứng. Mắt lợn viêm đỏ. Lợn ho, khó thở, rối loạn tiêu hóa. Niêm mạc miệng, môi, chân răng, gốc lưỡi có những vết loét. Chỗ da mỏng ở bẹn, tai, mõm, bụng có những nốt xuất huyết nhỏ. Lợn có biểu hiện co giật, có khi bị bại liệt 2 chân sau. Bệnh tiến triển 8 - 15 ngày rồi chết.
Thể mãn tính: Lợn mắc bệnh ở thể cấp tính lâu ngày không khỏi chuyển sang thể mãn tính, thường thấy ở lợn 2 - 3 tháng tuổi. Lợn bị rối loạn tiêu hóa, ho, khó thở. Các nốt xuất huyết ở bẹn, tai, mũi, bụng, sườn, lưng chuyển từ màu đỏ sang tím sau đó da bị tróc từng mảng như bánh đa. Bệnh tiến triển 1 - 2 tháng làm lợn gầy yếu, chết do kiệt sức.
Phòng và trị bệnh
Phòng bệnh: Tiến hành các biện pháp phòng bệnh tổng hợp như xây dựng chuồng trại cao ráo, thường xuyên vệ sinh chuồng trại, không để đọng nước. Bố trí hố sát trùng trước cửa chuồng. Định kỳ tiêu độc, khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi bằng vôi bột hoặc các loại hóa chất sát trùng như Benkocid, Han-iodine, Virkon... khi không có dịch thực hiện 1 lần/tuần, khi có dịch 2 lần/tuần. Sau mỗi đợt nuôi phải tiến hành tổng vệ sinh chuồng trại, sau đó phun thuốc sát trùng toàn bộ tường, trần, nền chuồng. Dùng nước vôi 10% quét nền và tường chuồng. Để trống chuồng ít nhất 2 tuần trước khi nhập nuôi lứa mới.
Chọn lợn giống khỏe mạnh, đã được kiểm dịch, nuôi cách ly để theo dõi 10 - 15 ngày.
Sử dụng vaccine Dịch tả lợn nhược độc đông khô chủng C cho tất cả các loại lợn từ 45 ngày tuổi trở lên, trường hợp tiêm sớm hơn (21 - 30 ngày tuổi) phải tiêm nhắc lại mũi 2 sau mũi 1 từ 3 - 4 tuần, sau đó cứ 6 tháng tiêm nhắc lại.
Cho vật nuôi ăn, uống đầy đủ, đúng khẩu phần đảm bảo chất lượng. Thường xuyên bổ sung vitamin, điện giải, men tiêu hoá để nâng cao sức đề kháng cho đàn vật nuôi.
Hiện bệnh dịch tả vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu.
Related news

Giai đoạn úm heo hay giai đoạn heo con theo mẹ là khởi đầu quan trọng trong chăn nuôi heo, giai đoạn này heo con chưa hoàn thiện cơ thể do vậy rất dễ mắc các bệnh thông thường, ở thời kỳ này tỷ lệ chết của heo là 9,4% trên tổng số heo được sinh ra, nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hiện tượng này là do heo mẹ đè và heo con mắc bệnh.

Câu nói "giống là tiền đề, thức ăn là quyết định" nói lên vai trò quan trọng trong việc chọn giống tốt, nhằm mục đích nâng cao năng suất, chất lượng và thu nhập cho người nuôi lợn.

Biết được tập tính và sinh lý của heo, bạn mới hình dung rõ môi trường nuôi dưỡng, thức ăn và mức dinh dưỡng trong thức ăn ảnh hưởng quan trọng thế nào đối với sự phát triển và sản xuất của heo.

Sau khi cai sữa cho heo con, thông thường heo mẹ sẽ động dục trở lại vào ngày thứ 4-7 (chiếm 85-90%). Nếu 10 ngày sau khi cai sữa heo con mà không thấy heo mẹ động dục trở lại thì heo mẹ đó gọi là chậm động dục trở lại. Bệnh thường gặp tại các cơ sở chăn nuôi có điều kiện nuôi dưỡng kém.

Tìm hiểu nguyên nhân, triệu chứng, cách phòng và trị bệnh viêm cuốn rốn ở heo con