Home / Cá nước ngọt / Cá điêu hồng

Một số bệnh thường gặp ở cá điêu hồng và cách điều trị

Một số bệnh thường gặp ở cá điêu hồng và cách điều trị
Author: 2LUA.VN tổng hợp
Publish date: Friday. December 2nd, 2016

1. BỆNH DO VI KHUẨN

Cá bị bệnh xuất huyết bụng trương to, hậu môn đỏ

1.1. Bệnh xuất huyết

- Tác nhân gây bệnh:

Cầu khuẩn Streptococcus sp, gram dương.

- Dấu hiệu bệnh lý:

Cá yếu, bơi lờ đờ, kém ăn hoặc bỏ ăn; hậu môn, gốc vây chuyển màu đỏ; mắt, mang, nội tạng và cơ xuất huyết; máu loãng; thận, gan, lá lách mềm nhũn. Cá bị bệnh nặng sẽ bơi quay tròn, không định hướng, mắt đục và lồi, bụng trương to.

- Phân bố và lây lan bệnh:

Bệnh gặp ở nhiều loài cá nuôí nước ngọt. Khí nuôi cá rô phi năng suất cao trong hệ tuần hoàn khép kín, cá dễ phát bệnh.

- Phòng trị bệnh:

+ Bón vôi liều lượng 1 - 2 kg/100 m3 nước, từ 2 - 4 lần/ tháng, tùy theo pH môi trường.

+ Dùng Erythromyxín trộn vào thức ăn tứ 3 - 7 ngày, liều dùng 2 - 5 g thuốc/100 kg cá/ngày đầu, Có thể phun nồng độ 1 - 2 ppm, sau đó ngày thứ 2 trộn vào thức ăn 4 g/100 cá, từ ngày thứ 3 - 5 giảm còn một nửa. Dùng thuốc KN-04-12 cho ăn 4 g/l kg cá/ngay và 3 - 6 ngày liên tục. Dùng Vitamin C phòng bệnh, liều dùng 20 30 mg/kg cá/ngày, liến tục 7 -10 ngày,

1.2. Bệnh viêm ruột

- Tác nhân gây bệnh: Vi khuẩn Aeromonas hydrophila, gram âm

Cá bị viêm ruột, ruột trương to đầy hơi

- Dấu hiệu bệnh lý:

Tương tự bệnh xuất huyết do cầu khuẩn, biểu hiện điển hình là ruột trương to, chứa đầy hơi.

- Phân bố và lây lan bệnh:

Bệnh thường gặp ở cá nuôi thương phẩm khi môi trường nuôi bị ô nhiễm, đặc biệt là cho ăn bằng thức ăn không đảm bảo chất lượng, tỷ lệ nhiễm bệnh thấp.

- Phòng trị bệnh:

Dùng Erythromyxin hoặc Oxytetramyxin cho cá ăn, liều dùng 10 - 12 g/100 kg cá/ngày đầu, từ ngày thứ 2-7 liều dùng bằng 1/2 ngày đầu. Dùng thuốc KN-04-12.

2. BỆNH KÝ SINH TRÙNG

2.1. Bệnh trùng bánh xe

- Tác nhân gây bệnh: Một số loài trong họ Trùng bánh xe Trichodinidae.

Trùng bánh xe bám dày đặc trên vây cá hương

Trùng banh xe nhìn qua kính hiển vi

- Dấu hiệu bệnh lý:

Trên thân và vây cá mới mắc bệnh có nhiều nhớt màu hơi trắng đục, nhìn ở dưới nước rõ hơn khi bắt cá lên cạn, da cá chuyển màu xám. Cá ngứa ngáy, thường nổi từng đàn lên mặt nước và một số con tách đàn bơi xung quanh. Khi cá bị bệnh nặng, trùng bám dày đặc ờ vây, mang làm mang cá đầy nhớt và bạc trắng, cá bị ngạt thở, bơi lội mất phương hướng và cuối cùng lật bụng mấy vòng, chìm xuống đáy và chết.

- Phân bố và lây lan bệnh:

Bệnh thường phát vào mùa xuân thu, khi nhiệt độ nước 25 - 30°C.

- Phòng trị bệnh:

Dùng nước muối NaCl 2 - 3% tắm cho cá 5 -15 phút. Dùng CuS04 nồng độ 3 - 5 ppm tẳm cho cá 5 -15 phút hoặc phun xuống ao với nồng độ 0,5 - 0,7 ppm (0,5 - 0,7 g cho 1 m3 nước). Dùng Formalin nồng độ 200 - 250 ppm (200 - 250 mt/m3) tắm trong 30 - 60 phút hoặc nồng độ 20 - 25 ppm (20 - 25 ml/m3) phun xuống ao.

2.2. Bệnh trùng quả dưa

- Tác nhân gây bệnh: Trùng quả dưa Ichthyophthyrius multifilis.

- Dấu hiệu bệnh lý:

Da, mang, vây của cá bệnh có nhiều trùng bám thành các hạt lấm tấm rất nhỏ, màu hơi trắng đục (đốm trắng, còn gọi là vảy nhót), có thể thấy rõ bằng mắt thường. Da, mang cá có nhiều nhớt, màu sắc nhợt nhạt. Cá bệnh thường nổi đầu trên tầng mặt, bơi lờ đờ. Lúc đầu, cá tập trung gần bờ, nơi có cỏ rác, quẫy nhiều do ngứa. Trùng bám nhiều ở mang làm cá ngạt thở. Khi quá yếu, cá ngoi đầu lên để thở, đuôi bất động cắm xuống nước.

- Phân bố và lây lan bệnh:

Bệnh gặp ở nhiều loài cá nuôi nước ngọt, thường phát vào mùa xuân, mùa đông.

- Phòng trị bệnh:

Dùng Formalin nồng độ 200 - 250 ppm (200 - 250 ml/m3) tắm trong 30 - 60 phút hoặc nồng độ 20 - 25 ppm (20 - 25 ml/m3) phun xuống ao 2 lần/tuần.

2.3. Bệnh sán lá đơn chủ

- Tác nhân gây bệnh:

Sán lá đơn chủ Cichlidogyrus tilapiae, C. sclerosus, Gyrodactylus nilotìcus

Đĩa bám của sán lá đơn chủ trên mang cá

Móc bám của sán lá đơn chủ ký sinh ở da cá

- Dấu hiệu bệnh lý:

Sán ký sinh trên da và mang cá làm cho da và mang cá tiết ra nhiều dịch nhờn ảnh hưởng đến hô hấp. Da và mang có sán ký sỉnh bị viêm loét tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm và một số sinh vật xâm nhập gây bệnh.

- Phân bố và lây lan bệnh:

Bệnh phát vào mùa xuân, mùa thu, mùa đông.

- Phòng trị bệnh:

Dùng nước muối NaCl 2-3% tắm cho cá 5 -15 phút. Dùng KMnO4 nồng độ 20 ppm (20 g/m3) tắm cho cá 15 - 30 phút. Dùng Formalin nồng độ 200 - 250 ppm (200 - 250 ml/m3) tắm trong 30 - 60 phút hoặc nồng độ 20 - 25 ppm (20 - 25 ml/m3) phun xuống ao.

2.4. Bệnh rận cá

- Tác nhân gây bệnh: Rận cá Caligus sp.

- Dấu hiệu bệnh lý:

Rận cá thường ký sinh ở vây, mang cá làm cho da cá bị viêm loét tạo điều kiện cho vi khuấn, nấm, ký sinh trùng khác xâm nhập, vì vậy bệnh này thường đi cùng với bệnh đốm trắng, đốm đỏ, lở loét làm cá chết hàng loạt. Cá bệnh thường ngứa ngáy, vận động mạnh trên mặt nước, bơi lội cuồng dại, cường độ bắt mồi giảm.

- Phân bố và lây lan bệnh:

Rận cá ký sinh ở nhiều loài cá nuôi. Với cá điêu hồng nuôi mật độ dày, rận cá ký sinh có thể làm cá chết hàng loẹt.

- Phòng trị bệnh:

Dùng KMnO4 nồng độ 3 - 5 ppm (3 - 5g/m3) hoặc Chlorin nồng độ 1 ppm (1 g/m3) phun xuống ao. Dùng Formalin nồng độ 20 - 25 ppm (20 - 25 ml/m3) phun xuống ao.

2.5. Bệnh nấm thủy mi

- Tác nhân gây bệnh:

Là một số loài của 2 giống Saprolegnia Achlya. Khi bị lạnh, cá thường chúi xuống bùn để trú ấn và thường bị nấm tấn công. Cá vừa bị rét lại bị nấm nên rất dễ chết.

Giống Achlya

Giống Saprolegnia

- Dấu hiệu bệnh lý:

Đầu tiên, trên da cá xuất hiện các vùng trắng xám, sau vài ngày tại đó mọc lên các sợi nấm mảnh và phát triển thành từng búi nấm trắng như bông, một đầu bám vào da cá, đầu kia tự do ngoài môi trường nước. Cá bệnh bơi hỗn loạn do bị ngứa ngáy, thích cọ sát vào các vật thể trong nước làm tróc vảy trầy da, tạo cơ hội cho vi khuẩn và ký sinh trùng gây bệnh xâm nhập làm cá bị bệnh nặng hơn.

- Phân bố và lây lan bệnh: Thường gặp ở các đàn cá bị thương tổn trên da do đánh bắt, vận chuyển hoặc do ký sinh trùng. Bệnh phát triển ở nhiệt độ nước thích hợp từ 18 - 25°C, khi nuôi cá mật độ dày, nước tù bẩn, hàm lượng chất hữu cơ cao.

- Phòng trị bệnh:

Tây dọn ao trước mỗi vụ nuôi: Vét bớt bùn đáy, phơi nắng đáy ao, dùng vôi bột để sát trùng, diệt tạp và cải thiện pH.

Nuôi cá với mật độ thích hợp, tránh những tác động cơ học hoặc do ký sinh trùng làm cá bị thương tổn, tạo điều kiện cho bào tử nấm xâm nhập gây bệnh.


Related news

Kỹ thuật chăm sóc cá Diêu Hồng Kỹ thuật chăm sóc cá Diêu Hồng

Cá điêu hồng hay cá diêu hồng hay còn gọi là cá rô phi đỏ (danh pháp khoa học: Oreochromis sp.) là một loài cá nước ngọt thuộc họ Cá rô phi (Cichlidae) có nguồn gốc hình thành từ lai tạo. Thuật ngữ diêu hồng hay điêu hồng được xuất phát từ việc dịch từ tiếng Trung Quốc.

Monday. November 9th, 2015
Đặc điểm sinh học của cá điêu hồng Đặc điểm sinh học của cá điêu hồng

Cá điêu hồng còn gọi là cá diêu hồng hoặc cá rô phi đỏ, có xuất xứ từ Đài Loan. Năm 1990, chúng được nhập từ Học viện Công nghệ Châu Á (AIT) về Việt Nam

Friday. December 2nd, 2016
Nguyên tắc chung nuôi cá đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Nguyên tắc chung nuôi cá đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm

Địa điểm và công trình nuôi: Địa điểm nuôi phải nằm trong vùng được quy hoạch cho nuôi thủy sản của địa phương hoặc được cơ quan thẩm quyền phê duyệt.

Friday. December 2nd, 2016