Kỹ Thuật Nuôi Cá Rô Phi Vằn

Cá rô phi vằn dòng gift được nhập vào nước ta từ giữa những năm 1990 và hiện đang được nuôi phổ biến ở nhiều địa phương. Loài cá này có ưu điểm nổi bật là tốc độ tăng trọng cao hơn 60% so với cá rô phi thường, tỷ lệ sống cao hơn 50%. Xin giới thiệu một số kỹ thuật cơ bản nuôi giống cá này.
Đặc tính
Đây là loài cá nước ngọt nhưng có thể sống được ở môi trường nước lợ, nước mặn có độ mặn 32%o. Khả năng chịu nhiệt từ 15-40oC. Nhiệt độ thích hợp cho cá phát triển là 25-30oC, dưới 11oC cá có thể chết rét.
Thức ăn
Cá thuộc loại ăn tạp, chúng ăn các loại mùn bã hữu cơ, bèo, động vật phù du, giun đất, ấu trùng, các loại côn trùng, động vật dưới nước. Cho ăn thức ăn có hàm lượng đạm từ 20-30%.
Kinh nghiệm nuôi
Nuôi bán thâm canh: cỡ giống 15 - 20g/con, thả với mật độ 2-3 con/m2.
Thức ăn: Bón phân gây màu để tạo thức ăn tự nhiên, đồng thời bổ sung thêm thức ăn có hàm lượng đạm từ 18-20%. Thành phần nguyên liệu phối chế bao gồm: cám gạo 40%, bột bắp 17%, khô đậu phộng 15%, premix 1%. Hỗn hợp trên cần nấu chín, ngày cho ăn 2-3 lần, lượng cho ăn bằng 2-3% trọng lượng cá trong ao. Nên cho thức ăn vào sàn hoặc khay cố định để kiểm tra theo dõi.
Bón phân: dùng phân chuồng ủ kỹ (2-3% CaO), bón 25-30kg/100m2 ao/tuần. Nếu không có phân chuồng, có thể dùng phân xanh.
Cách bón: Bó cây phân xanh thành bó nhỏ 5-10kg, ngâm chìm trong nước, sau 3-5 ngày đảo lại một lần. Khi thấy lá phân hủy hết thì vớt cây lên bờ đốt cho sạch.
Sau thời gian nuôi 4-6 tháng, tỷ lệ sống của cá đạt 85-90%; năng suất 8-10 tấn/ha.
Nuôi thâm canh
Diện tích ao thích hợp là 2.000-3.000m2, độ sâu 1,5-2m, pH từ 6,5-7,5. Ao phải có nguồn cấp nước sạch chủ động và được cải tạo kỹ trước khi nuôi. Mật độ nuôi: 6-8 con/m2, cỡ giống 30-50g/con.
Thức ăn: dùng thức ăn công nghiệp hay thức ăn tự phối chế, có hàm lượng đạm từ 18-35%, cho ăn nổi trên mặt nước khoảng 2 giờ.
Cỡ cá 10-15g, lượng cho ăn bằng 5% trọng lượng cá trong ao/ngày. Cỡ cá 50-300g, cho ăn bằng 3% trọng lượng cá trong ao/ngày. Cỡ cá trên 300g, cho ăn 2% trọng lượng trong ao/ngày. Hàng ngày kiểm tra lượng thức ăn để chủ động điều chỉnh.
Sục khí cho cá từ tháng nuôi thứ 2, mỗi ngày 6-8 giờ (sục từ 23 giờ tối hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau).
Thay nước khi ao bẩn, mỗi lần thay từ 1/3-2/3 lượng nước trong ao. Tháng thứ nhất không thay nước, tháng thứ 2 thay 1 lần, tháng thứ 3 thay 2 lần, từ tháng thứ 4 đến tháng thứ 6, mỗi tuần thay một lần.
Thu hoạch: Sau 5-6 tháng nuôi, cá đạt 400-600g/con là có thể thu hoạch, giữ lại cá nhỏ để nuôi tiếp.
Related news

Vùng đồng ruộng nuôi xen canh rô phi cũng phải đào mương, ao khoảng 18 đến 20% diện tích cấy lúa làm nơi trú ẩn cho cá. Mương, ao phải được tát cạn, tẩy dọn, rắc vôi bón lót như trên, để đầu vụ xuân thả cá vào nuôi trước khi cấy lúa.

Việc rút ngắn thời gian nuôi cá thịt, cá đạt qui cỡ thương phẩm lớn là điều mong muốn của bất kỳ người nuôi cá nào. Có nhiều biện pháp để đạt được điều này, trong đó thả cá giống cỡ lớn là rất quan trọng.

Ao hồ là môi trường sống thuận lợi của các loài thuỷ sinh vật làm thức ăn cho cá. Các loài cá nuôi của ta ăn những loài thức ăn khác nhau: cá mè trắng ăn tảo; cá mè hoa ăn động vật phù du; cá trắm cỏ, cá bống ăn rong, bèo cỏ; cá trôi ăn tảo và những mùn bã hữu cơ ở đáy… vì vậy thả nuôi ghép nhiều loài cá có tính ăn khác nhau trong cùng một ao sẽ tận dụng hết nguồn thức ăn tự nhiên trong nước, nhờ thế sẽ làm tăng năng suất cá nuôi.

Nuôi cá rô phi trong lồng không phải là việc mới. Philipin là một nước Đông Nam Á nuôi cá rô phi trong lồng rất có kết quả. Ở nước ta, việc nuôi cá rô phi trong lồng từ cỡ cá giống lên cỡ cá thịt trong thời gian 3 tháng đã được Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1 tiến hành tại hồ chứa nước suối Hai (huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây) trong hai năm liên tục (1996 – 1997).

Nuôi cá rô phi cao sản với 3 qui mô: nhỏ (diện tích dưới 1.000m2), vừa (diện tích dưới 4.000m2) và lớn (diện tích trên 10.000m2). Nuôi ở qui mô nhỏ có thể đạt 20 – 24 tấn/ha/năm (với 3 vòng nuôi cá thịt); còn ở qui mô vừa và lớn, năng suất đạt từ 16 – 18 tấn/ha/năm (với 2 vòng cá thịt, 1 vòng cá giống).