Cách Phòng Ngừa Và Xử Lý Rong Đáy Trong Ao Nuôi Tôm Sú

Trong ao nuôi tôm, đặc biệt là trong hệ thống nuôi quảng canh cải tiến, các loại rong đáy như rong đuôi chồn, rong mền, rong nhớt… phát triển gây ảnh hưởng đến hoạt động sống của tôm, làm cản trở hoạt động di chuyển bắt mồi của tôm, cạnh tranh ô-xy với tôm, hấp thụ các chất dinh dưỡng trong nước làm cho tảo trong ao khó phát triển, gây biến động các yếu tố môi trường nước như pH, ô-xy...
Hơn nữa, khi phát triển quá nhiều, rong sẽ chết và nổi lên mặt nước, nếu không xử lý kịp thời, xác rong sẽ phân hủy sinh ra khí độc, gây ô nhiễm môi trường ao nuôi và có thể gây chết tôm.
Nguyên nhân xuất hiện: Rong đáy thường xuất hiện ở những ao nước quá cạn (<0,8 m), tảo không phát triển, ánh sáng xuyên xuống nền đáy ao, mương, trảng nuôi và làm cho rong đáy phát triển mạnh. Ở những ao, mương ít cải tạo, cải tạo không triệt để, ao nhiều chất hữu cơ cũng thường gặp trường hợp này.
Cách phòng ngừa: Để ngăn chặn được sự phát triển của rong đáy, luôn giữ mực nước trong ao >1 m, cải tạo ao, mương kỹ, dùng phân vô cơ, phân hữu cơ hoặc các hóa chất gây màu để gây màu nước giúp tảo phát triển, độ trong nằm trong khoảng 30-40 cm, các yếu tố môi trường luôn ổn định.
Cách xử lý khi trong ao có rong đáy: Có thể sử dụng các loại hóa chất như đồng sulphat (CuSO4), BKC, Formol… để diệt rong đáy. Tuy nhiên, biện pháp này chỉ có hiệu quả tức thời, sau một thời gian rong vẫn tiếp tục phát triển. Không những thế, khi sử dụng hóa chất diệt rong, sẽ gây ra tình trạng rong chết hàng loạt và nếu xử lý không kỹ thì sự phân hủy của lượng rong lớn này sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tôm nuôi và chất lượng môi trường nước ao…
Biện pháp xử lý rong đáy hiệu quả nhất là dùng lưới kéo rong ra khỏi ao, dùng vợt vớt những rong nổi chết mặt nước, ở cuối ao, tránh để cho rong chìm lại xuống ao. Sau đó nâng mực nước ao lên >1 m và gây lại màu nước, giúp tảo phát triển tạo màng che ngăn chặn sự chiếu sáng của mặt trời xuống đáy ao.
Khi thiếu ánh sáng, rong đáy sẽ tàn lụi dần và không phát triển nữa. Trong xử lý rong đáy nên bổ sung thêm Vitamine C vào thức ăn để giúp tôm tăng sức đề kháng, sử dụng chế phẩm sinh học để xử lý nền đáy ao.
Related news

Nhóm nghiên cứu của Khoa Nông Lâm Ngư- Đại học Vinh đã triển khai mô hình nuôi theo hướng này tại xã Hưng Hoà, thành phố Vinh, Nghệ An. Ao có diện tích 4.000 - 4.100 m2, mức nước 1,2 - 1,4m, độ mặn 25 – 15%o giảm dần từ đầu đến cuối vụ nuôi. ^Hai giàn quạt nước (24 cánh/giàn) được bố trí đảo chiều ở giữa ao nuôi.

Dịch bệnh, nhất là đốm trắng gây thiệt hại đáng kể cho người nuôi. Tuy vậy, từ đầu năm đến nay, giá thức ăn đã giảm, lãi suất ngân hàng giảm mạnh, người nuôi có nhiều kinh nghiệm hơn trong đối phó với dịch bệnh. Dưới đây là một số giải pháp cơ bản tại hội thảo chuyên đề “Làm cách nào giảm giá thành nuôi tôm sú?”, do Sở NN&PTNT vừa tổ chức tại Bình Đại.

Bệnh phân trắng thường xảy ra ở tôm 40-50 ngày tuổi trở lên, mức độ xảy ra nhiều nhất là 70-80 ngày tuổi. Phân trắng xuất hiện nhiều hay ít phụ thuộc vào mật độ nuôi, mức độ của bệnh và số lượng tôm nhiễm bệnh. Mặc dù bệnh không gây tôm chết đồng loạt nhưng làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng tôm nuôi.

Tôm sú (Penaeus monodon) có khả năng sống trong các môi trường độ mặn, từ 2 phần ngàn (ppt) đến 45 phần ngàn (2-45 ppt). Tuy nhiên, khi nuôi tôm ở độ mặn quá cao hoặc quá thấp thường có nhiều vấn đề hơn là khi nuôi tôm trong khoảng độ mặn tối ưu cho đặc điểm sinh học của tôm sú (tối ưu là từ 15 đến 25 ppt). Nuôi tôm ở độ mặn cao hơn 30 ppt sẽ dễ làm bùng phát dịch bệnh, đặc biệt các bệnh virus đốm trắng, đầu vàng và vi khuẩn phát sáng. Vì vậy, người nuôi tôm có xu hướng nuôi tôm ở môi trường nước lợ hoặc ngọt nhưng khi nuôi tôm ở nước ngọt các vấn đề thường gặp phải là:

Vi khuẩn là tác nhân thường xuyên có mặt trong ao nuôi, cũng có thể gây nhiều bệnh nguy hiểm khác nhau cho các giai đoạn phát triển của tôm. Một số bệnh do vi khuẩn gây ra ở tôm nuôi như: bệnh đứt râu, bệnh cụt đuôi, hoại chi; bệnh đốm đen, đốm nâu, bệnh phát sáng, bệnh vi khuẩn dạng sợi,...