Bài toán chất lượng cao cho cây chè Lâm Đồng

Bài 1: Giảm thuốc trên đồng chè
Lâm Đồng canh tác trên một vùng nguyên liệu 22.030ha chè các loại, đạt sản lượng chè búp tươi hàng năm hơn 223.000 tấn, tương đương với 30% tổng sản lượng chè của cả nước. Địa bàn sản xuất chè tập trung ở 10 xã, thị trấn trọng điểm của huyện Bảo Lâm và thành phố Bảo Lộc; còn lại diện tích phân bổ trên 43 xã, thị trấn thuộc các huyện Di Linh, Đức Trọng, Lâm Hà và thành phố Đà Lạt.
Theo Chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng, với lợi thế khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi, cây chè Lâm Đồng sinh trưởng quanh năm tươi tốt, nhưng cũng đồng thời thường phát sinh những loài dịch hại như: bọ cánh tơ, bọ xít muỗi, nhện đỏ, rầy xanh, gây nên các bệnh thối búp, phồng lá, chấm xám... Để phòng trừ hiệu quả các loài dịch hại này, phần lớn người nông dân đã hình thành thói quen sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật nằm trong danh mục. Tuy nhiên, vẫn còn không ít số hộ nông dân vì thấy giá rẻ đã mua về sử dụng các loại thuốc có độ độc cao như hoạt chất Fipronil, Hecxaconazole, Carbendazim... chỉ có hiệu lực trong thời gian ngắn, ngược lại về lâu dài lại tạo môi trường mới cho các loài dịch hại nhện đỏ, bọ xít muỗi cùng nhau gia tăng khả năng kháng lại nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật khác...
Đánh giá qua kết quả kiểm tra việc kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây chè từ đầu năm 2015 đến nay, Chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng cho biết: Ở vùng chè Bảo Lộc và Bảo Lâm vẫn còn có 2 đại lý nhận phân phối 8 tấn thuốc có hoạt chất Fipronil, trong đó số thuốc đã được bên bán hướng dẫn cho nông dân phối trộn để diệt trừ kiến trên cây cà phê chiếm gần 88%, còn lại 12% dùng để diệt trừ các bệnh sâu cuốn lá, bọ trĩ, rầy rệp, bọ xít muỗi trên cây chè.
Nếu không kể đến những hình thức chế tài đã được áp dụng thì việc sử dụng hoạt chất Fipronil trên cây chè vẫn chưa chấm dứt - dù còn một tỷ lệ nhỏ cũng rất cần được cảnh báo, khắc phục kịp thời. Đây cũng là vấn đề đáng quan tâm đối với các Đoàn kiểm tra liên ngành cấp huyện trong tỉnh Lâm Đồng, các đoàn cần chủ động, thường xuyên và quyết liệt hơn trong kiểm tra, xử lý nghiêm những vi phạm trong việc lưu thông “độc chất” này.
Trong quá trình sản xuất chè thương phẩm, mặc dù nhiều doanh nghiệp và nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong danh mục, nhưng vẫn còn tình trạng không ghi chép sổ sách, chưa tuân thủ đầy đủ nguyên tắc 4 đúng (đúng thuốc, đúng liều lượng và nồng độ, đúng lúc và đúng cách). Trong khi đó, về việc kiểm tra dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, có đến hơn 80% doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu chè oloong ở Lâm Đồng chỉ gửi mẫu phân tích khi có yêu cầu của khách hàng Đài Loan.
Nhiều trường hợp lấy mẫu ngẫu nhiên khi đưa ra kết luận chất lượng chung trên sản phẩm chè. Tương tự đối với doanh nghiệp sản xuất, chế biến chè đen xuất khẩu vẫn còn sử dụng nguyên liệu từ các điểm thu mua không được theo dõi, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Hệ quả như đã nói ở trên - nhiều lô hàng chè đen xuất khẩu bị phía Đài Loan trả về vì vượt ngưỡng dư lượng các hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật như: Fipronil, Hexaconazole, Acetamiprid, Imidacloprid…
Để sản phẩm chè Lâm Đồng đạt chất lượng ngày càng cao, giảm thiểu thấp nhất dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, Chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng đề xuất những bài toán về kỹ thuật thâm canh chè an toàn theo chuỗi giá trị gắn với việc tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với thuốc bảo vệ thực vật.
Cụ thể, 5 “bài giải” kỹ thuật gồm: Khuyến cáo dùng các loại thuốc bảo vệ thực vật có độ độc thấp để thay thế các loại thuốc bảo vệ thực vật có độ độc cao; tổ chức hội thảo giới thiệu, hướng dẫn nông dân vùng chè sử dụng các loại thuốc sinh học với thời gian cách ly ngắn; tăng cường quản lý dịch hại tổng hợp trên cây chè; xây dựng các mô hình điểm ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật chăm sóc chè; cơ giới hóa trong canh tác chè; hoàn thiện quy trình sản xuất chè búp tươi.
Và 6 giải pháp quản lý nhà nước là: Tăng cường thanh, kiểm tra hoạt động kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên vùng chè, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm; không cho phép hội thảo những loại thuốc bảo vệ thực vật trên các cây trồng khác trong vùng sản xuất chè; xây dựng thí điểm các cửa hàng, tủ thuốc chuyên kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật trong danh mục được phép sử dụng trên cây chè Việt Nam; định kỳ và đột xuất thanh, kiểm tra dư lượng thuốc bảo vệ thực vật từ khâu sản xuất đến chế biến và tiêu thụ chè; truy nguyên nguồn gốc các lô hàng bị nhiễm dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt ngưỡng an toàn để xử lý theo quy định pháp luật; tiếp tục rà soát và xác định nguyên nhân có hay không dư lượng Dioxin trong sản xuất và chế biến chè trên địa bàn Lâm Đồng.
Related news

Từ cánh đồng của nông dân tới giai đoạn chế biến, mỗi năm có khoảng 1 triệu tấn lúa ở ĐBSCL bị thất thoát, tương đương với khoảng 5% tổng lượng lúa thu hoạch. Các chuyên gia đã tính toán, chuỗi thất thoát đã làm giảm giá trị của xuất khẩu gạo Việt Nam khoảng 500 triệu USD

Với quy trình trồng rau hữu cơ, mỗi ký rau mang tên Oganik có giá bán cao gấp gần chục lần rau thường. Không chỉ phục vụ cho nhà hàng, khách sạn 4, 5 sao và khách “Vip”, sản phẩm rau hữu cơ “siêu sạch” còn XK đi châu Âu…

Hiện nay tổng đàn lợn của tỉnh Bắc Kạn 183.726 con, trong đó: lợn nái có 17.744 con, chiếm 9,7% tổng đàn. Về lý thuyết với số lượng đàn lợn nái như trên có thể sản xuất đủ số lượng lợn giống nuôi thịt đáp ứng nhu cầu sản xuất trong tỉnh, nhưng thực tế bình quân hàng năm người chăn nuôi phải nhập khoảng 100.000 – 120.000 con lợn giống từ tỉnh ngoài, gây khó khăn rất lớn trong việc kiểm tra chất lượng và tình hình dịch bệnh trên đàn lợn của tỉnh.

Theo phản ánh của Vụ Nuôi trồng thủy sản (Tổng cục Thủy sản) tại Hội thảo “Quản lý chất lượng giống tôm nước lợ” diễn ra ngày 24/4 tại Ninh Thuận: Tình hình kinh doanh tôm giống rất phức tạp, một số cơ sở ương giống mua Naupli, post của một số cơ sở sản xuất giống lớn về trộn với tôm của mình sản xuất hoặc với tôm chợ rồi lại lấy bao bì, nhãnh mác của công ty làm thương hiệu của mình. Một số lượng tôm giống cũng được buôn bán qua đường tiểu ngạch từ Trung Quốc qua cửa khẩu Quảng Ninh về Việt Nam. Hầu hết số lượng này không được kiểm dịch, kiểm soát nên gây thiệt hại cho người nuôi.

Với sự hỗ trợ của Hội ND, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Nguyên cùng Công ty TNHH Cường Đại, nhiều hộ ND ở Thái Nguyên đã mua được máy cày theo phương thức trả chậm.