Giải Pháp Cho Diện Tích Sản Xuất Nông Nghiệp Khó Tưới Ở Huyện Ngọc Lặc

Huyện Ngọc Lặc có diện tích sản xuất nông nghiệp hàng năm khoảng 9.100 ha, trong đó, vụ xuân 4.600 ha, vụ mùa 4.500 ha.
Tuy nhiên, trong tổng số diện tích trên có tới 1.400 ha không chủ động được nguồn nước trong quá trình sản xuất. Nguyên nhân là do những diện tích này nằm trên độ dốc cao, trong khi hệ thống thủy lợi xuống cấp, thiếu nguồn nước, năng lực tưới kém, do vậy, hiệu quả sản xuất không cao.
Chúng tôi đến xã Mỹ Tân vào thời điểm lúa thu – mùa 2014 đang bước vào giai đoạn đẻ nhánh rộ, rất cần đủ nước, thế nhưng hầu hết diện tích lúa ở đây đang trong tình trạng thiếu nước, nên khả năng đẻ nhánh bị hạn chế, nếu tình trạng này còn tiếp diễn thì năng suất cuối vụ sẽ đạt thấp, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của bà con nông dân.
Toàn xã Mỹ Tân có 140 ha sản xuất nông nghiệp, trong đó có tới 100 ha gặp khó khăn về nước tưới, nên hàng năm, năng suất lúa trung bình chỉ đạt từ 1,5 đến 1,7 tạ/sào, nếu gặp hạn kéo dài thì năng suất còn xuống thấp hơn nữa.
Ở huyện Ngọc Lặc, không chỉ xã Mỹ Tân mà hơn 10 xã khác cũng có diện tích đất sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn về nước tưới, điển hình như các xã: Thạch Lập 70/160 ha, Cao Ngọc khoảng 60/190 ha; Ngọc Sơn 60/140 ha...
Để khắc phục tình trạng trên, UBND huyện Ngọc Lặc và chính quyền các xã đã thực hiện nhiều giải pháp, trong đó tích cực tu sửa, nâng cấp hệ thống hồ, đập và kênh mương thủy lợi, định kỳ hàng năm đều thực hiện nạo vét, khơi thông các tuyến kênh mương.
Mặc dù vậy, tình trạng thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp ở những vùng khó tưới vẫn không được cải thiện. Trao đổi với chúng tôi, ông Đỗ Ngọc Thịnh, Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ngọc Lặc, cho biết: Các giải pháp về đầu tư, nâng cấp, tu sửa hệ thống hạ tầng thủy lợi để khắc phục tình trạng thiếu nước cho những vùng khó tưới trong huyện hầu như đều không phát huy hiệu quả.
Bởi lẽ, vào mùa hanh khô, nguồn nước dự trữ trong các ao, hồ rất hạn chế, thậm chí là không có, vì vậy, cho dù có hoàn thiện được hệ thống hạ tầng thủy lợi thì năng lực tưới vẫn không có do không có nguồn nước.
Giải pháp hoàn thiện cơ sở hạ tầng để phục vụ cho những vùng khó tưới không phát huy hiệu quả, nên những năm gần đây, huyện Ngọc Lặc đã thực hiện giải pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên diện tích đất sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế thấp, đặc biệt tập trung vào những vùng có diện tích đất sản xuất nông nghiệp khó tưới.
Theo đó, từ năm 2010, huyện Ngọc Lặc đã thực hiện chuyển đổi những diện tích đất trồng 2 vụ lúa sang trồng 1 vụ màu, hoặc chuyên trồng màu. Đối với diện tích đất 1 vụ lúa được chuyển sang trồng các loại cây rau màu phù hợp với nhu cầu thị trường; cùng với đó, thực hiện thâm canh, luân canh tăng vụ nhằm tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích.
Chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên địa bàn huyện thực sự là giải pháp tối ưu, đã giúp huyện Ngọc Lặc tháo gỡ được nút thắt về hiệu quả kinh tế ở những vùng sản xuất nông nghiệp khó tưới.
Trao đổi với nhiều hộ dân có diện tích đất nằm trong vùng thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chúng tôi được biết: Trong quá trình thực hiện chuyển đổi, chính quyền địa phương đã phổ biến cho bà con nông dân lựa chọn những loại cây chịu được hạn, phù hợp với thổ nhưỡng và khí hậu địa phương nên hiệu quả kinh tế cao hơn gấp 2 đến 3 lần so với trồng lúa trước kia.
Con số 700 ha đất sản xuất nông nghiệp thuộc vùng khó tưới của huyện đã được chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ năm 2010 đến nay phần nào đã nói lên sự đồng thuận của nhân dân cho một chủ trương đúng đắn của huyện.
Và theo như ông Ngô Tiến Ngọc, Chủ tịch UBND huyện Ngọc Lặc: Con số này sẽ không dừng lại ở đây, mà sẽ còn tăng lên nữa trong những năm tới. Hiện tại, huyện đang thực hiện lập đề án chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho tất cả diện tích đất sản xuất nông nghiệp nhằm tăng năng suất và hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích mà vẫn bảo đảm được an ninh lương thực.
Có thể bạn quan tâm

Năm 2014 những hộ nuôi hàu lồng ở xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau rất phấn khởi vì thời tiết thuận lợi, hàu thương phẩm không bị rớt giá. Toàn xã Đất Mũi hiện có 17 bè nuôi hàu, khoảng 500 lồng. Đầu năm 2014, thả nuôi trên 100 tấn hàu giống, đến nay đã thu hoạch 170 tấn hàu thương phẩm trừ chi phí lãi trên 1 tỷ đồng. Bình quân mỗi hộ lãi trên 70 triệu đồng. Sau 8 tháng hàu giống đạt trọng lượng từ 4 - 5 con/kg và thu hoạch dần cho đến cuối năm, thị trường tiêu thụ chủ yếu tại thành phố Hồ Chí Minh giá dao động từ 15.000 – 20.000 đồng/kg. Hàu là loại dễ nuôi, thức ăn chủ yếu là phù sa. Đặc biệt nuôi hàu cũng ít tốn công chăm sóc nên lợi nhuận đem lại từ con hàu thương phẩm rất lý tưởng. Hiện nay, những hộ nuôi hàu lồng xã Đất Mũi chuẩn bị hàu giống để nuôi lấp vụ.

Nghề nuôi cá tra ở Đồng Tháp Đồng Tháp là tỉnh có diện tích nuôi cá tra lớn nhất khu vực ĐBSCL. Năm 2013 nuôi 1.994 ha, sản lượng đạt 365.437 tấn, XK đạt 182.714 tấn, giá trị kim ngạch hơn 473 triệu USD. Cá tra Đồng Tháp đã có mặt ở hơn 90 thị trường trên thế giới.

Nuôi trồng thủy sản (NTTS) của tỉnh Nam Định hiện phát triển sôi động cả ở vùng mặn lợ và nước ngọt; diện tích nuôi trồng đạt trên 15,5 nghìn ha với 40 vùng nuôi tập trung, sản lượng trung bình mỗi năm đạt 63,5 nghìn tấn. Nhiều tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất giống, sản xuất thức ăn và nuôi trồng được ứng dụng nhanh vào sản xuất.

Hơn một tháng qua, người nuôi cá điêu hồng ở Hợp tác xã (HTX) xã Bình Thạnh, huyện Cao Lãnh (Đồng Tháp) phấn khởi vì cá điêu hồng được các thương lái thu mua với giá 40.000 đồng/kg, tăng từ 5.000 - 7.000 đồng/kg so với tháng trước và nông dân lãi hơn 6.000 đồng/kg cá. Tuy nhiên, giá cá thường bấp bênh, dịch bệnh tăng, chất lượng con giống và môi trường là những vấn đề khiến người nuôi cá điêu hồng không an tâm.

Từ tháng 3 đến nay, hàu nuôi tại Long Sơn xảy ra hiện tượng chết kéo dài và hàng loạt nhưng chưa rõ nguyên nhân. Có người mất trắng cả tỷ đồng, có người còn chút vốn liếng muốn gầy lại đợt hàu sau nhưng không dám vì sợ rủi ro.