Biện Pháp Phòng Trừ Ruồi Đục Thân Và Sâu Đục Quả Đậu Tương

Ruồi đục thân và sâu đục quả đậu tương Có 2 loài gây hại chính cho đậu tương ở những vùng Châu Á nhiệt đới, ruồi hại hạt và sâu đục quả. Chúng gây nhiều tác hại trong điều kiện nhiệt độ cao và độ ẩm lớn. Việc phòng trừ chúng cần được thực hiện sớm.
Ruồi đục thân (Ophiomya phaseoli)
Loài côn trùng này hại cây đậu tương còn non từ lúc nảy mầm cho tới 2 tuần tuổi. Nếu chúng phá hoại các cây đậu tương khi được 10 ngày tuổi, thì tỷ lệ chết của cây sẽ là khoảng 90%. Nếu chúng phá hoại khi cây đã cứng cáp hơn một chút, thì hầu hết cây sẽ được sống sót, nhưng còi cọc và ốm yếu.
Những triệu chứng gây hại:
Những triệu chứng đầu tiên là các đốm trắng trên cây con và các lá thứ 1 hoặc thứ 2, ở đó ấu trùng đang hút nhựa cây.
Những triệu chứng tiếp theo càng rõ rệt hơn. Ấu trùng đục rãnh trên cây con và trên lá thứ nhất hoặc thứ hai. Các rãnh xuất hiện thành các đường cong màu nâu trên bề mặt lá.
Nếu bị hại nặng, cây đậu tương héo rũ, vì rễ không thể vận hành bình thường để chuyển vận nước và các chất dinh dưỡng. Trong vòng 2 tuần, những cây bị phá hại sẽ chết.
Phòng trừ
Trước khi trồng, xử lý hạt bằng cách trộn với Marshal 25 ST, theo tỷ lệ 10g/kg hạt. Sử dụng Monokrotofos 15% với lượng 2 lít/ha cho các cây đã gieo được 8 ngày để giết bất cứ ấu trùng nào còn sống sót. Phương thức này có thể làm giảm bớt những sự phá hại của loài ruồi hại hạt tới 92%.
Sâu đục quả (Etiella spp.)
Sâu đục quả phá hại ở giai đoạn hình thành quả. Nếu chúng phá khi cây đậu tương được 42-50 ngày tuổi, thì năng suất mất khoảng 78%.
Triệu chứng
Triệu chứng ban đầu là lớp màng phủ trắng trên bề mặt của quả, ấu trùng nằm trong đó. Khi ấu trùng lớn, thì quả bị hại kém phát triển.
Ấu trùng sống bên trong hạt, tạo thành một lỗ màu nâu sậm trên hạt và đùn các phần đã ăn ra ngoài. Nhìn từ bên ngoài, quả có vẻ teo tóp lại.
Những triệu chứng về sau thường thấy là xuất hiện hai lỗ hay điểm trên vỏ quả, tức là ấu trùng đã rời đi và đã trở thành bướm. Bướm nhỏ và có màu nâu, và sẽ đẻ trứng trên hoa và quả non của cây đậu tương.
Phòng trừ sâu đục quả
Kiểm tra thường xuyên cây đậu tương, từ lúc bắt đầu hình thành quả tới lúc hạt phát triển đầy đủ. Ngay khi phát hiện thấy ấu trùng thì cần phải tiến hành phun thuốc bảo vệ như Karphos với lượng 0,5-1,0lít/ha hoặc Marshal 2 lít/ha. Việc đánh giá cho thấy phương thức này có thể làm giảm sự phá hại của sâu đục quả tới 64%.
Có thể bạn quan tâm

1. Đất trồng: Các loại đất màu và đất lúa chủ động tưới tiêu đều có thể trồng được đậu nành rau. Nhưng những loại đất thịt nhẹ, có độ phì cao, tơi xốp thì đậu nành rau sẽ thu được năng suất cao. Độ pH thích hợp cho đậu nành rau là 5,8 - 6,5. - Phân bón: tùy thuộc vào độ phì của đất. Ở mức trung bình cần bón 10 tấn phân chuồng, 40 kg N, 80 kg P2O5, 70 kg K2O cho 1 ha. Ở đất nghèo dinh dưỡng có thể bón 50 kg N, 100 kg P2O5, 90 kg K2O và 15-20 tấn phân chuồng cho 1 ha. Bón làm 2 lần: lần thứ 1 bón lót phân chuồng, phân lân, phân kali và 50% phân đạm; 50% phân đạm còn lại bón thúc vào lúc bắt đầu hình thành quả.

Triệu chứng bệnh Bệnh còn được gọi là bệnh sương mai, rất phổ biến ở các vùng có khí hậu ẩm. Ở Đồng bằng sông Cửu long, bệnh thường nặng vào vụ Hè Thu và có thể thành dịch khi gặp điều kiện thuận lợi, ngay cả trong vụ Đông Xuân. Điều kiện khí hậu ở nước ta rất thích hợp cho bệnh này phát triển.

Cách trồng không làm đất: Muốn trồng đậu nành trên ruộng không làm đất đạt kết quả tốt cần chú ý những điểm sau: Trồng lúc đất còn ẩm, chưa bị nứt nẻ hoặc đất khi gieo hạt phải đủ ẩm. Do đó, sau khi thu hoạch lúa tranh thủ xuống giống khi đất còn ẩm, nếu ruộng quá khô cần cho nước vào tạo độ ẩm cho đất.

Cây đậu tương là cây thực phẩm có hiệu quả kinh tế lại dễ trồng. Sản phẩm từ cây đậu tương được sử dụng rất đa dạng như dùng trực tiếp hạt thô hoặc chế biến thành đậu phụ, ép thành dầu đậu nành, nước tương, làm bánh kẹo, sữa đậu nành, okara... đáp ứng nhu cầu đạm trong khẩu phần ăn hàng ngày của người cũng như gia súc.

Khi bón phân cho đậu nành, người trồng phải chia ra làm nhiều đợt, với liều lượng chung là 30 – 35 kg phân bón, gồm : ure, DAP và Kali cho 1000 m2. Theo khuyến cáo, người trồng nên bón lót phân lân trước hoặc ngay sau khi gieo sạ. Số lượng phân còn lại chia làm 3 hoặc 4 lần bón, tùy theo điều kiện đất đai và nhu cầu của cây trồng.