Xuất khẩu sắn có thể đạt 1,5 tỉ USD

Trái ngược với tình trạng xuất khẩu ảm đạm của nhiều mặt hàng nông sản khác, từ đầu năm tới nay, xuất khẩu sắn liên tục tăng trưởng mạnh cả sản lượng và giá trị so với các tháng cùng kỳ năm trước.
Theo Bộ NN&PTNT, 7 tháng đầu năm, tổng khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn ước đạt 2,89 triệu tấn với giá trị 886 triệu USD, tăng 35,4% về khối lượng và tăng gần 31% về giá trị so cùng kỳ năm 2014. Trong nửa đầu năm, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu chính, chiếm tới trên 89% thị phần, tăng 53,47% về khối lượng và tăng 46,15% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014. Thị phần của các thị trường chính khác đều nhỏ hơn 2%. Các thị trường có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất là Nhật Bản hơn 10 lần và Đài Loan (Trung Quốc) 64%.
Hiệp hội Sắn Việt Nam cho biết, giá xuất khẩu sắn hiện nay trung bình khoảng 420 - 430 USD/tấn và nhu cầu tương đối ổn định. Dự kiến cả năm nay, xuất khẩu sắn sẽ đạt khoảng 1,5 tỉ USD bao gồm cả sắn lát và sắn bột.
Hiện nay, ngoài Trung Quốc, sắn Việt Nam đã bắt đầu có mặt tại nhiều thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Đông, Malaysia… Trong thời gian tới, thị trường hướng tới của sản phẩm sắn là Mỹ và EU. Nhận định tiềm năng xuất khẩu sắn còn khá rộng mở, theo Hiệp hội Sắn Việt Nam, ngành sắn đang phấn đấu hướng tới mục tiêu nâng giá trị xuất khẩu đạt mức 2 tỉ USD vào năm 2020.
Có thể bạn quan tâm

Năm qua, trong bối cảnh khó khăn chung của ngành mía đường, Cty CP Đường Bình Định (BISUCO) đã gặp phải nhiều trắc trở trong kinh doanh, dẫn tới nợ nần nông dân khoản tiền lớn.

Các loại gạo này hầu hết được đóng gói đẹp mắt, có thương hiệu để tạo niềm tin cho người tiêu dùng. Ngoài gạo nội địa được trồng từ giống ngoại, thị trường còn có gạo nhập khẩu.

Giá mía tăng một phần do đầu vụ, mặt khác chữ đường vụ này đạt cao, dao động từ 10,5 đến 11 chữ đường, tăng gần 1 chữ đường so với vụ trước. Với giá mía hiện tại, những diện tích đạt năng suất 100 tấn/ha sẽ có lợi nhuận khoảng 10 triệu đồng, còn năng suất từ 120-200 tấn/ha thì mức lợi nhuận có thể đạt từ 30-60 triệu đồng.

Trong khi đó, giá mua tại vườn chỉ dao động ở mức 3.000-5.000 đồng một kg. Tuy nhiên, dù đang vào vụ thu hoạch rộ, nhưng tình hình thu mua của các thương lái khá chậm. Ông Hoàng, có vườn trồng hồng khoảng 1ha ở Đức Trọng cho biết dù đã kêu mấy ngày nay, người mua vẫn không đến lấy hàng.

Trong khi đó, các yếu tố con giống, thời tiết thay đổi thất thường dẫn đến môi trường nuôi luôn biến động; các công trình hạ tầng phục vụ NTCN hiện đang thiếu và yếu, nhất là điện… thì người NTCN nuôi ở mật độ dày (80 - 200 con/mét vuông) khó có thể đạt được hiệu quả như mong đợi.