Tỉ Phú Xoài Miền Tây

Niềm đam mê cùng với ý chí làm giàu đã giúp ông Đinh Văn Phương vượt qua khó khăn, trở thành “vua xoài ” với thu nhập tiền tỉ
Men theo con đường nối TP Cần Thơ đến TP Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang, rẽ vào ấp 2A, thị trấn Bảy Ngàn, chúng tôi bắt gặp ngôi nhà tường ba gian khang trang nằm nép mình dưới những tán cây xanh. Đó là cơ ngơi của ông Đinh Văn Phương, còn gọi Sáu Phương (60 tuổi), một lão nông trồng xoài cát Hòa Lộc nổi tiếng.
Phải lòng với xoài
Dẫn chúng tôi ra khu vườn rộng 7 ha được phủ xanh với những tán xoài rợp lá, thẳng tắp, đưa tay lau những giọt mồ hôi trên trán và dõi mắt nhìn về phía những cây xoài đang mùa trổ bông, giọng ông phấn khởi: “Mưa gió bất thường, nhà vườn lo nhất là xoài rụng hết bông. Như con thấy đó, các vườn kế bên bông rụng trắng, nhìn mà xót cho bà con. Riêng vườn của chú đến giờ hoa vẫn giữ nụ, vàng ươm và chắc chắn sẽ đậu trái”.
Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo đông anh em, ngay từ nhỏ ông không được học hành, phải làm đủ nghề để kiếm sống.
Từ nấu rượu, bán cà-rem đến nuôi vịt chạy đồng, sau đó chuyển sang trồng mía, trồng lúa, vất vả trăm bề nhưng cuộc sống chẳng dư dả là mấy. Như một cơ duyên, trong một lần ghé thăm người quen, nhìn vườn xoài cát Hòa Lộc trĩu quả, lại được gia chủ mời thưởng thức những lát xoài thơm, ngọt và mềm, ông phải lòng và quyết tâm theo đuổi việc trồng xoài từ đó.
Dồn hết 18 triệu đồng vốn ít ỏi tích cóp được từ nghề nông, năm 1993, ông mua 150 gốc xoài cát Hòa Lộc về phủ kín 1 ha đất vườn và tự tay chăm sóc. Năm đầu khởi nghiệp, ông liên tục đối mặt với muôn vàn khó khăn do thiếu kinh nghiệm chăm sóc.
Có lúc, chứng kiến chỉ sau một trận mưa mà bông xoài rụng trắng vườn, ông “chết đứng”. Tạm gác nỗi buồn qua một bên, suốt nhiều năm trời, ông vừa học hỏi kinh nghiệm vừa mày mò làm theo cách riêng của mình. Vụ đầu tiên trúng đậm, ông mừng rơi nước mắt.
Cứ thế, lấy ngắn nuôi dài, từ 150 gốc xoài ban đầu, nay ông đã có trong tay hơn 2.000 gốc, chủ yếu là xoài cát Hòa Lộc. Ngoài ra, ông còn sở hữu hàng trăm gốc xoài Tứ Quý, xoài Đài Loan trải dài trên 7 ha với thu nhập mỗi năm tròm trèm 1 tỉ đồng.
Bám trụ với nghề
Xoài cát Hòa Lộc vốn nức tiếng thơm ngon và có giá trị xuất khẩu cao nên được nhiều người dân ở đồng bằng sông Cửu Long chọn trồng. Thế nhưng, để thành công cũng không đơn giản, bởi việc trồng xoài không chỉ đòi hỏi kiến thức, kinh nghiệm mà còn phải có duyên. “Cũng trồng một loại xoài như nhau nhưng thu nhập của mỗi nhà vườn mỗi khác, ăn thua do kỹ thuật chăm sóc. Tùy vào vẻ ngoài bắt mắt và chất lượng trái mà giá cả sẽ có sự chênh lệch” - ông Sáu Phương cho biết.
Ngồi xếp bằng dưới gốc xoài cạnh chiếc chòi nhỏ dùng để giữ vườn, thong thả rót nước mời khách, ông bật mí: “So với các loại cây ăn trái khác, xoài là loại chịu ngập úng tốt nhất. Đất nhẹ kém màu mỡ giúp cây dễ cho nhiều bông và đậu trái trong khi đất quá màu mỡ đủ nước chỉ giúp cây phát triển tốt nhưng lại ít trái”. Thực tế, xoài cát dễ trồng và sinh trưởng tốt nhưng thường bị sâu rầy phá hoại và thường rụng bông khi mưa lớn hoặc vô vụ trái mùa.
Với 21 năm theo nghề, theo lão nông dạn dày kinh nghiệm này, việc bảo vệ bông là khâu quan trọng nhất, đòi hỏi kỹ năng chăm sóc lẫn kiến thức ở người trồng. “Có thể phun thuốc bảo vệ bông 1 lần khi phát bông dài từ 2 - 3 cm để ngừa côn trùng chích hút. Lần hai chỉ phun khi bông đạt kích thước tối đa, sau đó ngưng phun để bảo vệ những loại côn trùng có ích giúp bông thụ phấn” - ông Sáu Phương chia sẻ.
Tôi thắc mắc vì sao lại phải bọc kín hết trái, ông giải thích: “Xoài ngon chính là xoài ít sử dụng thuốc. Muốn có xoài ngon, đạt chất lượng xuất khẩu và bán cho thương lái thì khi xoài phát triển lớn bằng ngón chân cái, mình chỉ phun thuốc dưỡng trái rồi bọc lại để tránh sâu bọ, tránh mưa, đồng thời bảo quản để trái xanh, đẹp cho tới lúc chín, như vậy mới được giá”.
Nhờ chỉn chu trong việc chăm sóc mà trong vài năm trở lại đây, dù thời tiết diễn biến bất thường, trong khi nhiều nhà vườn lao đao thì vườn xoài ông vẫn ra trái đều đặn. Hiện tại, với 7 ha diện tích đất trồng xoài, mỗi năm ông thu hoạch 2 đợt với 50 tấn trái. Với giá bán thấp nhất 15.000 đồng/kg và cao nhất 45.000 đồng/kg, trừ đi các chi phí, ông thu về từ 800 - 900 triệu đồng/năm.
Không chỉ thành công với việc trồng xoài, ông còn tích cực tham gia hoạt động từ thiện tại địa phương. Sau mỗi vụ thu hoạch, ông thường góp tiền giúp đỡ người nghèo. Đặc biệt, ông Sáu Phương luôn sẵn lòng truyền đạt kinh nghiệm trồng xoài cho bà con có nhu cầu. Lối sống chân tình, luôn hết lòng với mọi người ấy của ông khiến người dân trong vùng mến phục.
Trồng xoài không chỉ đơn thuần là một công việc mà còn là cả đam mê và chính điều đó đã giúp tôi thành công” - ông Sáu Phương thổ lộ.
Có thể bạn quan tâm

Với niềm đam mê chăn nuôi, anh Võ Đình Duẫn (thôn Bắc Lân, xã Ba Động, Ba Tơ, Quảng Ngãi) đã mạnh dạn vay vốn đầu tư mô hình trang trại chăn nuôi heo khép kín. Sau 3 năm, mô hình này đã mang lại doanh thu tiền tỷ cho gia đình anh.

Đó là mô hình của nông dân Huỳnh Trung Tràng, sinh năm 1957, ấp Sóc Mới, xã Long Sơn, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, doanh thu hàng năm đạt trên 200 triệu đồng, lợi nhuận đạt từ 100 - 120 triệu đồng/năm.

Ra riêng với 2 công ruộng trồng lúa của cha mẹ cho vào năm 1990, cuộc sống gia đình mới Nguyễn Nghĩa Dũng (ấp Nam, xã Dưỡng Điềm, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) rất khó khăn. Với bản tính ham mê chăn nuôi nhưng lại không có vốn, vợ chồng anh Dũng đã phải xin và được cha mẹ đồng ý cho bán đồ cưới để mua một con heo nái về nuôi.

Nhằm khuyến khích bà con nông dân phát triển chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, ổn định và bền vững, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trạm Khuyến nông huyện Yên Sơn thực hiện mô hình nuôi gà thả vườn an toàn sinh học tại xã Mỹ Bằng (Yên Sơn). Đến nay bước đầu mô hình đã đem lại hiệu quả kinh tế thiết thực.

Trong những năm qua, nông dân trên địa bàn huyện Phú Bình (Thái Nguyên) đã áp dụng tiến bộ khoa học vào chăn nuôi bò vỗ béo nhưng với phương thức đơn giản như nuôi từ lúc bò mẹ đẻ ra đến lúc thịt, một số khác thì mua bò, bê về nuôi chăn thả, tận dụng nguồn cỏ tự nhiên và phụ phẩm của ngành trồng trọt, có bổ sung thức ăn tinh nhưng với một phần nhỏ, chủ yếu là ngô, cám gạo cho nên chưa khai thác hết tiềm năng tăng trọng của bò khi đưa vào vỗ béo. Hơn nữa, thời gian nuôi còn kéo dài nên hiệu quả chưa cao.