Quản Lý Thức Ăn Trong Ao Nuôi Tôm Sú Thâm Canh

Trong nuôi tôm sú thâm canh, thức ăn tự nhiên chỉ có vai trò nhất định trong thời gian đầu sau khi thả giống. Sau đó tôm phải dựa vào thức ăn viên để lớn. Vì vậy, cho ăn là một khâu kỹ thuật quan trọng quyết định đến năng suất và hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi.
Chi phí thức ăn chiếm hơn 50-60% tổng chi phí sản xuất. Để quản lý thức ăn hiệu quả, người nuôi cần lưu ý một số vấn đề sau:
1. Chọn thức ăn có độ đạm từ 42-35% tùy theo giai đoạn phát triển của tôm, thức ăn có mùi đặc trưng hấp dẫn tôm.
2. Cho ăn từ 4-6 lần/ngày, không cho ăn dư thừa, nên cho ăn hơi thiếu để tránh ô nhiễm và lãng phí thức ăn. Kết hợp chài, sàng ăn, kiểm tra đường ruột tôm và tình trạng sức khỏe của tôm để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.
3. Trong chu kỳ lột xác của tôm cần giảm thức ăn từ 20-50% trong 2-3 ngày.
4. Nếu mưa liên tục nhiều ngày, cần giảm thức ăn từ 10-20%.
5. Cần bổ sung thêm vitamin, khoáng và men tiêu hóa vào khẩu phần cho tôm từ 1-2%.
6. Trong 2 tháng đầu, do tập tính của tôm phân bố ở khu vực ven bờ nên thức ăn cần được rải ở vùng nước gần bờ (3-4 m). Từ tháng thứ 3 thức ăn được rải đều khắp ao. Tránh rải thức ăn nơi đáy ao dơ bẩn và quá sát bờ. Các vị trí có nhiều chất cặn bã lắng tụ nên làm dấu bằng cọc để tránh cho tôm ăn ở đó.
7. Kích cỡ viên thức ăn phù hợp với cỡ tôm để tránh tôm phân đàn. Khi chuyển đổi số thức ăn phải chuyển từ từ, mỗi ngày bớt 15-20% thức ăn nhỏ để trộn vào 15-20% thức ăn lớn hơn.
8. Sau 1 tháng nuôi kiểm tra thấy tôm không đều thì tiến hành cho tôm ăn dặm. Cứ mỗi cử ăn trừ lại 10% lượng thức ăn/cử đó, sau 1 tiếng từ lúc cho ăn thì tiến hành cho ăn dặm bằng cách đi vòng quanh bờ rải thức ăn.
Cho tôm ăn phù hợp, đủ lượng, đủ chất sẽ giúp tôm lớn nhanh, giảm chi phí sản xuất, giảm ô nhiễm môi trường ao nuôi và tăng lợi nhuận./.
Có thể bạn quan tâm

Nước mặn / lợ được đưa vào ao lắng, trữ lắng 7-10 ngày, sát trùng, diệt mầm bệnh bằng clorin 15-30ppm (theo qui trình sử dụng clorin).

Nuôi tôm sú đang là nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân Đồng bằng sông Cửu Long. Hiện nay, nghề nuôi tôm đã tiến đến việc thâm canh hoá ngày càng cao. Do đó, việc quản lý chất lượng nước trong môi trường ao nuôi ngày càng khó khăn, đặc biệt là sự phát sinh tính độc Ammonia (NH3) trong môi trường ao nuôi.

Phong trào sản xuất tôm giống, nuôi tôm thương phẩm ở Việt Nam đã và đang phát triển mạnh đòi hỏi nguồn cung cấp tôm bố mẹ lớn. Nhưng việc xử dụng tôm bố mẹ ngoài tự nhiên bị hạn chế bởi tính mùa vụ và tập tính sinh sản

Ở tôm sú, bệnh thường hay gặp nhất, khó ngăn ngừa và điều trị là bệnh thân đỏ đốm trắng. Theo các công trình nghiên cứu, tất cả các giai đoạn phát triển của tôm đều có thể nhiễm bệnh này. Giai đoạn phát triển mạnh nhất là từ tháng nuôi đầu tiên đến tháng nuôi thứ hai trong ao nuôi tôm thịt.

Trong năm 2011 và năm 2012, nuôi tôm nước lợ tại các tỉnh ven biển trong cả nước bị thiệt hại nặng trên diện rộng do dịch bệnh và hội chứng hoại tử gan tụy. Tuy nhiên trong vùng dịch vẫn có một số mô hình quản lý tốt cho kết quả vụ nuôi tôm thành công. Từ kết quả khảo sát thực tiễn, quy trình nuôi tôm hạn chế dịch bệnh đã được ngành nông nghiệp đúc kết đưa vào áp dụng trong vụ tôm năm 2013.