Ngành Thủy Sản Tổn Thất Sau Thu Hoạch Cao Do Công Nghệ Thấp

Ngành thủy sản đặt mục tiêu đến năm 2020 đạt kim ngạch xuất khẩu từ 8-9 tỉ đô la Mỹ, đóng góp 30-35% tổng sản lượng nông nghiệp. Tuy vậy, ngành này vẫn đang đối diện với vấn đề tổn thất sau thu hoạch cao do khoa học công nghệ chưa cải tiến.
Tại Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện chiến lược phát triển thủy sản và triển khai đề án tái cơ cấu ngành thủy sản đến 2020 theo hướng gia tăng giá trị do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN-PTNT) tổ chức tại Phú Yên vào ngày 30-3, đại diện Bộ NN-PTNT cho biết, những chỉ tiêu mà ngành thủy sản đặt ra trong giai đoạn 2011-2015 đều đã đạt được.
Cụ thể, sản lượng cá tra đặt ra là 1,14 triệu tấn vào năm 2015 nhưng trong năm 2013 sản lượng đã đạt 1,15 triệu tấn; tương tự kim ngạch xuất khẩu thủy sản đến năm 2015 là 6,5 tỉ đô la Mỹ nhưng đến năm 2013 kim ngạch đã đạt 6,7 tỉ đô la, tăng 200 triệu đô la Mỹ so với chỉ tiêu.
Năm 2013, ngành thủy sản đóng góp 18,5% vào tổng sản lượng lĩnh vực nông nghiệp.
Tuy nhiên, vấn đề mà ngành thủy sản đang phải đối diện trong những năm qua và cả trong thời gian tới là làm sao nâng cao giá trị gia tăng cho các mặt hàng thủy sản, giảm tổn thất sau thu hoạch.
Theo Tổng cục Thủy sản, Bộ NN - PTNT, hiện cả nước đang có 61.000 tàu cá dưới 20 CV (sức ngựa) và 38.000 tàu cá từ 20 CV đến dưới 90CV, còn tàu trên 90CV là 26.000 chiếc. Tuy nhiên, 100% tàu khai thác thủy sản là vỏ gỗ, không có hầm đông bảo quản thủy sản sau khi đánh bắt mà ngư dân chỉ dùng nước đá để làm lạnh thủy sản hoặc phơi khô nên thủy sản đánh bắt chỉ có thể tiêu thụ nội địa, xuất khẩu bị hạn chế do chất lượng không đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của nhà nhập khẩu.
Thực tế, những năm qua, tổn thất sau thu hoạch của ngành thủy sản cao một phần do kinh phí đầu tư cho khoa học công nghệ thấp.
Cụ thể, trong giai đoạn 2010-2013, thủy sản đóng góp 27 - 29% giá trị sản lượng nông nghiệp nhưng đầu tư cho nghiên cứu khoa học thủy sản chiếm hơn 11% tổng kinh phí sự nghiệp khoa học của toàn ngành nông nghiệp. Không chỉ vậy, kinh phí đầu tư sự nghiệp kinh tế thủy sản chỉ có hơn 7%, thấp nhất so với các ngành thủy lợi, lâm nghiệp, nông nghiệp.
Có thể bạn quan tâm

Ngày 20/6/2014, tại HTXNN Hoà Thắng 2, huyện Phú Hoà, Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Phú Yên tổ chức hội thảo tuyên truyền nhân rộng mô hình chăn nuôi vịt sinh sản an toàn sinh học cho 15 nông dân tại huyện Tuy An đến tham quan mô hình.

Những năm trước, phong trào nuôi nhím rầm rộ phát triển ở nhiều địa phương trong tỉnh, hàng loạt cơ sở nuôi nhím mọc lên với đủ quy mô. Ông Hà Mơ (thôn Bố Lang, xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh) là một trong những hộ tiên phong trong phong trào nuôi nhím tại địa phương này.

Như nhiều địa phương khác, ngay sau thu hoạch lúa vụ mùa, bà con nông dân xã miền núi Kỳ Sơn, huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng), nhanh chóng bắt tay gieo trồng cây vụ đông. Trên địa bàn xã, cây vụ đông chủ lực là dưa chuột, bởi đây là loại cây năng suất, giá trị hàng hóa cao, đầu ra thuận lợi.

Đầu những năm 2000, Công ty Agropac đã đưa cây phúc bồn tử từ Pháp về trồng thành công trên vùng đất xã Đạ Ròn, huyện Đơn Dương, rồi sau đó chuyển giao cho nông dân xã Hiệp Thạnh, huyện Đức Trọng sản xuất theo hướng công nghệ cao cho đến ngày nay.

Qua thử nghiệm ở một số địa phương cho thấy, chăn nuôi gà trên đệm lót sinh học giúp giảm ô nhiễm môi trường, giảm chi phí, gà phát triển đồng đều, ít bị bệnh, lông tơi mượt và sạch, quản lý nuôi dưỡng đơn giản; tốc độ sinh trưởng nhanh, sau 70 ngày nuôi gà có tỷ lệ sống cao (98%), đạt 2,2 kg; khả năng sinh sản tốt, đạt từ 170-180 quả trứng/năm.