Khởi Sắc Làng Nghề Chè Ngọc Đồng

Làng nghề sản xuất, chế biến chè Ngọc Đồng – xã Thục Luyện (huyện Thanh Sơn) có 87 hộ sinh sống, trong đó 97% số hộ tham gia trồng chè.
Tuy mới được UBND tỉnh công nhận là làng nghề năm 2010 nhưng nghề trồng chè ở đây đã có từ rất lâu. Trước kia trong làng chỉ có một số hộ trồng chè với quy mô nhỏ, đến năm 1985 số hộ trồng chè ngày một tăng và lan nhanh ra toàn xã.
Mặc dù có thời điểm do giá chè xuống thấp, việc canh tác gặp khó khăn, nhiều hộ gia đình đã chặt bỏ cây chè và chuyển sang các loại cây trồng khác, nhưng từ sau năm 2001 đến nay, do nhu cầu tiêu thụ chè trên thị trường tăng mạnh, nghề trồng chè ở Ngọc Đồng cũng có bước phát triển mới.
Những cây chè giống cũ, năng suất thấp đã bị phá bỏ, thay vào đó là những cây chè giống mới năng suất cao được triển khai trồng đại trà. Cây chè dần trở thành một cây trồng thế mạnh, đem lại hiệu quả kinh tế không nhỏ cho người dân nơi đây...
Một trong những người trồng chè rất sớm ở Ngọc Đồng là ông An Văn Tiếp – thương binh hạng 4/4. Ông Tiếp cho biết: “Trước kia trong làng người dân chủ yếu trồng chè hạt, năng suất thấp nên giá trị kinh tế không cao.
Tuy nhiên, sau khi được cán bộ khuyến nông huyện hướng dẫn chăm sóc các loại chè giống mới như: PH1, Shan tuyết, Phúc Vân Tiên, Lai 1, Lai 2... năng suất cao, dễ chăm sóc, chè uống thơm ngon, xanh nước, được người tiêu dùng ưa chuộng thì người dân đã tin tưởng hơn với việc trồng chè đại trà”.
Giờ đây, nhờ trồng chè kết hợp với trồng keo, nuôi rắn hổ mang và gà ta đẻ trứng, mỗi năm ông An Văn Tiếp cũng thu được trên 150 triệu đồng. Đặc biệt, với nguồn thu nhập ổn định từ cây chè, ông Tiếp đã đầu tư mua máy vò và hai bộ chế biến sản xuất chè khô phục vụ sơ chế và bán chè thành phẩm cho khách hàng trong và ngoài tỉnh như Hà Nội, Thái Nguyên...
Cùng với ông An Văn Tiếp, hiện nay tại Ngọc Đồng có 55 hộ có máy chế biến chè loại nhỏ và diện tích trồng chè của làng đã lên tới 55ha. Người dân trong làng không chỉ trồng và chế biến chè tại địa phương mà đã mở rộng sản xuất, mua thêm chè tươi từ các vùng lân cận như Văn Miếu, Võ Miếu, Tam Thanh, Tân Minh mới đủ đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Bình quân mỗi ngày mỗi nhà sản xuất, chế biến được 3,5 – 7 tạ chè tươi, sau khi trừ chi phí thu lãi xấp xỉ 200 nghìn đồng/ tạ. Từ đó, đời sống của nhiều hộ dân trong làng đã nâng cao đáng kể: 75% số hộ có mức sống ổn định và khá, 100% số hộ có nhà xây kiên cố, nhiều hộ có nhà cao tầng khang trang...
Anh Hà Thanh Quảng – Trưởng làng nghề sản xuất, chế biến chè Ngọc Đồng cho biết: Sau khi được công nhận làng nghề, nhận thức và trách nhiệm của người dân trong làng với cây càng đã nâng lên rõ rệt. Nhờ biết cách chăm sóc, phân trà nên trung bình mỗi năm người dân Ngọc Đồng có thể thu 7 lứa chè.
Việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong trồng, chế biến, chăm sóc chè cũng được người dân đặc biệt quan tâm nên đến nay sản phẩm chè Ngọc Đồng đã tạo dựng được thương hiệu và chỗ đứng với đông đảo người tiêu dùng.
Hi vọng trong thời gian tới, làng nghề sản xuất, chế biến chè Ngọc Đồng sẽ được sự quan tâm, hỗ trợ nhiều hơn của các cấp, các ngành, đặc biệt là cây giống, hướng dẫn kỹ thuật và nguồn vốn để người dân yên tâm phát triển sản xuất, làm giàu trên chính quê hương mình...
Có thể bạn quan tâm

Đến thời điểm này, nông dân huyện Lai Vung thu hoạch 10/45ha diện tích nấm rơm vụ đông xuân. Thời điểm đầu vụ hè thu năng suất đạt khá, khoảng 13 - 14 tấn/ha, nhưng càng về cuối vụ năng suất giảm gần một nửa và đến đầu vụ đông xuân này chỉ còn khoảng 8 tấn/ha.

Tuy vậy so với những tỉnh đang phát triển mạnh về cá lồng như Hải Dương, Nam Định, Nam Hà… nghề nuôi cá lồng ở Phú Thọ mới manh nha; tuy nhiên, do có thế mạnh như hệ thống sông ngòi chạy dài, nguồn nước sạch, ổn định.... Đây là những lợi thế mà các tỉnh gần biển khó có được do bị ảnh hưởng bởi thủy triều, nguồn nước không giữ được vệ sinh.

Hôm qua 16.12, tại TP.Tam Kỳ, Sở NN&PTNT phối hợp cùng Tổ chức Cứu trợ & phát triển quốc tế (FIDR) tổ chức hội nghị cuối kỳ nhằm đánh giá hiệu quả của mô hình thâm canh lúa nước cải tiến theo gói kỹ thuật SRI (thuộc Dự án cải thiện an ninh lương thực cho hộ nông dân sản xuất quy mô nhỏ ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam).

Theo anh Pơloong Vinh, thành viên nhóm hộ chăn nuôi bò thôn Pa Lan, từ ngày triển khai mô hình này, người dân trong thôn đều cùng nhau chăm sóc và xem như tài sản chung của cả làng. “Sau này, nếu đàn bò đẻ thêm nhiều con, chúng tôi sẽ xem xét tặng cho hộ nào khó khăn nhất để làm vốn phát triển kinh tế” - anh Vinh cho hay.

Theo mô hình tham khảo từ tổ hợp khu chức năng chợ cá quốc tế Busan (Hàn Quốc), mỗi Trung tâm nghề cá đều có các hạng mục công trình chính là: tòa nhà văn phòng, chợ đầu mối, bãi đỗ xe, khu vực kho lạnh, khu lưu giữ hải sản tươi sống, khu phân loại và cảng cá có thể tiếp nhận tàu trọng tải lên tới 20.000 tấn...