Bắc Ninh Khống Chế Hiện Tượng Vàng Lá Lúa

Hiện tượng vàng lá lúa thường xuất hiện vào vụ mùa ngay từ giai đoạn mạ, tiếp tục phát triển ở giai đoạn sau cấy 20 ngày cho đến khi thu hoạch và gây ảnh hưởng nghiệm trọng đến năng suất lúa. Hiện tượng này xuất hiện khá phổ biến trên địa bàn, song đến nay vẫn không có thuốc trị đặc hiệu.
Góp phần giúp nông dân hạn chế thiệt hại, được sự giúp đỡ của Sở KH và CN, Viện Thổ nhưỡng Nông hoá đã triển khai đề tài “nghiên cứu nguyên nhân và biện pháp khắc phục hiện tượng vàng lá lúa” tại tỉnh Bắc Ninh.
Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng vàng lá lúa là do cây bị thiếu hụt Mg. Sự thiếu hụt này có thể do nhiều nguyên nhân như: Hàm lượng Mg trao đổi trong đất thấp, do đối kháng giữa K và Mg, giữa Ca và Mg. Sự thiếu hụt này dẫn đến làm giảm khả năng ôxy hoá của hệ rễ, hậu quả là làm tăng nồng độ chất khử, đặc biệt là Fe ở dạng khử xung quanh rễ, làm cây lúa bị ngộ độc Fe.
Trên cơ sở phân tích các nguyên nhân gây bệnh và đặc điểm thổ nhưỡng của các vùng canh tác tại các địa phương trong tỉnh, tác giả đưa ra những biện pháp khống chế hiện tượng vàng lá lúa.
Khuyến cáo các địa phương căn cứ vào một số chỉ tiêu hoá học trong đất của các vùng có nguy cơ bị vàng lá lúa để xác định rõ hiện trạng một số nguyên tố như: Hàm lượng Mg trao đổi, Ca trao đổi, K hữu cơ trực tiếp và Fe trao đổi, đặc biệt là Fe ở dạng khử (Fe2+) để có định hướng về chủng loại, mức độ và phương pháp bón các loại phân sao cho không xảy ra hiện tượng thiếu Mg trong cả trường hợp thiếu tuyệt đối và thiếu tương đối do bị các dinh dưỡng khác cạnh tranh.
Trong trường hợp thiếu Mg đơn thuần không có sự ảnh hưởng của các nguyên tố dinh dưỡng như: K, Ca và Fe, có thể bón 20- 30 kg MgO vào thời kỳ bón lót hoặc bón thúc giai đoạn I, nếu thiếu quá nhiều có thể bón cả 2 lần. Cũng có thể dùng 60- 90 kg/ha Tecmo photphat (phân lân Văn Điển) bón lót, kết hợp với bón 20-30 kg MgO ở giai đoạn bón thúc I. Hoặc bón kết hợp giữa Tecmo photphat với supe lân Lâm Thao theo tỷ lệ 1:1.
Đối với trường hợp thiếu Mg có sự đối kháng của K hữu cơ trực tiếp trong đất, cần giảm lượng bón K ở thời kỳ đầu, tùy theo mức độ có thể giảm hẳn hoặc chỉ bón vào thời kỳ lúa đã có đòng và cũng không cần bón nhiều. Trường hợp có đối kháng Ca không nên dùng supe lân mà thay thế hoàn toàn bằng phân lân Văn Điển.
Không nên dùng NPK vì rất khó xác định bản chất của loại phân này, dễ sinh tác động phụ gây tác hại trở lại. Trong trường hợp có tác động của Fe ở dạng khử (hàm lượng lớn), cần bón tăng cường P ở dạng Tecmo và Mg, kết hợp giữa bón lót và bón thúc lần I sẽ hạn chế sự ảnh hưởng gây ngộ độc rễ lúa của Fe. ở những vùng thường xuyên xảy ra hiện tượng vàng lá lúa không nên sử dụng những giống lúa mẫn cảm như tẻ thơm và các giống có cấu hình tương tự.
Tuy nhiên cũng theo khuyến cáo của tác giả, những biện pháp khắc phục hiện tượng vàng lá lúa trên đây mới dựa trên kết quả nghiên cứu trong 2 năm 2005, 2006 nên có thể chưa thật đầy đủ. Các cơ quan chức năng cần phối hợp với chính quyền các cấp tiếp tục triển khai nghiên cứu và xây dựng thêm một số mô hình để hoàn thiện quy trình khống chế hiện tượng vàng lá lúa trên địa bàn tỉnh.
Có thể bạn quan tâm

Với kết quả gieo thẳng của những vụ lúa xuân trước có thể nói rằng: Vụ xuân gieo thẳng thành công trong mọi điều kiện thời tiết, trên mọi chân đất

Tháng 2 sau cấy còn có rét, ảnh hưởng đến STPT cây lúa. Để chủ động giành vụ xuân thắng lợi trong mọi loại hình thời tiết, cần lưu ý một số biện pháp chăm sóc

Tại hội thảo đánh giá giống lúa vụ ĐX 2018-2019 ở Viện Lúa ĐBSCL, giống OM10636 được bình chọn triển vọng nhất và giống OM8 được đánh giá có chất lượng gạo ngon

Trong những ngày rét đậm, rét hại nếu che được nilon, nhiệt độ bên trong luống mạ sẽ luôn cao hơn nhiệt độ bên ngoài khoảng 3-4 độ C, giúp cho cây mạ

Tháng 2 sau cấy còn có rét, đặc biệt có 1 – 2 đợt rét đậm, rét hại ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển cây lúa. Để chủ động giành vụ xuân thắng lợi