Thủy lợi đến đâu ấm no đến đó

“Phát triển về thủy lợi là sự khác biệt chính làm nên thành tựu về đảm bảo an ninh lương thực của đất nước ta trong 30 năm qua.
Với kinh nghiệm ít ỏi của mình, nhưng tôi luôn cảm nhận thấy rất rõ khi thủy lợi đi đến đâu thì đói nghèo ra đi, ấm no và thịnh vượng đến cùng”, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát nhấn mạnh khi nói về những dấu ấn của thủy lợi đối với ngành NN-PTNT.
Hệ thống thủy lợi thuộc loại lớn nhất trên thế giới
GS.TS Vũ Trọng Hồng, nguyên Thứ trưởng Bộ NN-PTNT, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam, dẫn ra nhận xét của tổ chức Ngân hàng Thế giới (WB) về hệ thống công trình thuỷ lợi ở Việt Nam: “Việt Nam có một mạng lưới đập và cơ sở hạ tầng thuỷ lợi, thuộc loại lớn nhất trên thế giới, đứng cạnh Trung Quốc và Mỹ”.
Thực vậy, từ chỗ chỉ có 13 hệ thống thủy lợi đảm bảo tưới cho 324.900 ha, tiêu 77.000 ha năm 1945, đến nay cả nước đã xây dựng được hàng ngàn hệ thống công trình thủy lợi với 6.886 hồ chứa nước, 10.000 trạm bơm điện lớn, 5.500 cống tưới, tiêu lớn, 234.000km kênh mương, 25.960 km đê các loại.
Các hệ thống thủy lợi đã đảm bảo tưới cho 7,3 triệu ha đất gieo trồng lúa, 1,5 triệu ha rau màu, cây công nghiệp, cấp khoảng 6 tỷ m3 nước phục vụ sinh hoạt và công nghiệp, tiêu cho 1,72 triệu ha đất nông nghiệp, nâng dần mức bảo đảm phòng, chống lũ bảo vệ các khu đô thị, khu dân cư và phục vụ SX.
Ngành thủy lợi đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao, phát triển nông nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện môi trường.
Trong khoảng 10 năm trở lại đây với nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, các nguồn vốn ODA và nguồn vốn khác hệ thống thủy lợi trên địa bàn cả nước đã được rà soát, đầu tư và nhiều hệ thống công trình thủy lợi rất lớn của đất nước đã được đầu tư hoàn chỉnh.
Các công trình tiêu biểu như hệ thống Cửa Đạt, hệ thống Ngàn Trươi - Cẩm Trang, hệ thống Bản Mồng - Tả Trạch, cống Đò Điệm, cải tạo các hệ thống thủy lợi sông Tích, nâng cấp hệ thống thủy lợi Bắc Nam Hà, Bắc Hưng Hải…
Ở vùng Nam Trung bộ và Tây Nguyên đã đầu tư hàng loạt công trình lớn, tiêu biểu như hệ thống Nước Trong để tiếp nước, hệ thống Bình Định - Vân Phong, các hệ thống công trình thủy lợi lớn trong khu vực miền Trung.
Từ năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trình đảm bảo an toàn hồ chứa và trong vòng hơn 10 năm, chúng ta đã đầu tư 12.000 tỷ đồng để sửa chữa trên 600 hồ chứa các loại, trong đó chủ yếu là các hồ chứa lớn đã được áp dụng các tiêu chuẩn an toàn của thế giới.
Phát triển thủy lợi đã hình thành nền tảng phát triển nông nghiệp trong quá trình đổi mới, đóng góp quan trọng vào kết quả đảm bảo an ninh lương thực, chuyển đổi cơ cấu SX, phòng chống thiên tai lũ lụt, bảo vệ an toàn cho SX và đời sống toàn dân.
Thủy lợi không những có đóng góp quan trọng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia mà còn đưa nước ta trở thành nước xuất khẩu gạo và nhiều loại nông sản có vị thế cao trên thị trường quốc tế.
Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, ngành thuỷ lợi đã và đang tạo dựng cho đất nước một hệ thống đồ sộ các công trình thủy lợi, với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn kỹ thuật ngày càng cao, làm nền tảng để phát triển một nền nông nghiệp hiệu quả và bền vững.
Với những thành tích kể trên, Bộ trưởng Cao Đức Phát đánh giá cao nỗ lực của các thế hệ cán bộ, công nhân viên ngành thủy lợi đã góp phần bảo vệ thành quả phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo phát triển bền vững của đất nước, đảm bảo an ninh - quốc phòng.
Tái cơ cấu thủy lợi hướng đến sự bền vững
Ngành thủy lợi đang bước vào thời kỳ phát triển mới với nhiều thử thách to lớn.
Toàn ngành NN-PTNT đang nỗ lực triển khai thực hiện 2 chương trình đầy tham vọng, đó là tái cơ cấu nền nông nghiệp theo hướng gia tăng giá trị gia tăng và phát triển bền vững; xây dựng NTM.
Việc triển khai thực hiện 2 chương trình này đang tạo ra sự chuyển biến sâu sắc trong nông nghiệp và nông thôn nước ta.
Sự chuyển biến đó cũng đòi hỏi phải có sự phát triển mới trong ngành thủy lợi.
Trước hết, thủy lợi phải định hướng rõ hơn để phát huy các lợi thế so sánh của đất nước, phát triển các loại nông sản hàng hóa có khả năng cạnh tranh cao đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.
Mặt khác, công tác thủy lợi phải đáp ứng sát hơn các yêu cầu về thích ứng và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu được dự báo là thách thức lớn nhất của nhân loại và trước hết là của Việt Nam trong thế kỷ 21.
Để làm được điều này, ngành thủy lợi phải điều chỉnh kết cấu hạ tầng xây dựng đáp ứng sát mục tiêu phát triển nông nghiệp, thủy sản và các ngành kinh tế - xã hội khác theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, đặc biệt là cây trồng cạn, cây công nghiệp và rau hoa.
Ngành thủy lợi cũng cần ứng dụng KHCN, sử dụng nước, công trình thủy lợi có hiệu quả.
“Thủy lợi luôn phải đứng trước thách thức về thiên tai.
Ngay giờ phút này, ngành thủy lợi trực 24/24 kiểm soát tất cả những vấn đề về thiên tai trên toàn quốc.
Rất nhiều lo lắng khi từng công trình đang trong giai đoạn thi công, xây lắp và cả trong quản lý vận hành lúc nào cũng đầy những mối lo về an toàn hồ đập, về hạn hán…”, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Hoàng Văn Thắng cho biết.
Thách thức là to lớn nhưng với truyền thống tốt đẹp, với bề dày kinh nghiệm được tích lũy, với đội ngũ tâm huyết, với sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước ngành Thủy lợi sẽ tiếp tục phát triển vững chắc, tiếp tục đóng góp to lớn cho sự phát triển của ngành NN-PTNT và của đất nước.
Có thể bạn quan tâm

Thế nhưng khi về huyện Cẩm Mỹ (Đồng Nai), chúng tôi mới biết rằng "di chứng" của cơn sốt gạo ấy vẫn còn gây lo lắng cho người nông dân nơi này, nhất là với những hộ lâu nay sinh sống chủ yếu nhờ vào cây bắp.

Mùa nước nổi năm nay có rất nhiều mô hình làm giàu từ lũ được nhân rộng ở các địa phương vùng ĐBSCL như: nuôi tôm càng xanh, nuôi cá chình, lươn, cá lóc, cá bông... ở các huyện: Tân Châu (An Giang), Hồng Ngự, Tân Hồng (Đồng Tháp), Tân Hưng (Long An)...

Gần đây, trong làng giống cây trồng Việt Nam xuất hiện một tên tuổi mới, đó là thương hiệu Sao Cao Nguyên® Seeds. Nắm bắt được thị hiếu người tiêu dùng và người sản xuất, Cty này đã cùng một lúc đưa ra thị trường 3 giống khổ qua lai F1 với các đặc tính cơ bản như: thu trái sớm; trái sai, thời gian thu trái dài; màu sắc, hình dáng đẹp; cứng trái thích hợp vận chuyển xa và bảo quản lâu. Các giống lai này có tính thích nghi rộng, phù hợp với nhiều vùng miền ở cả Bắc, Trung, Nam.

Trong ao cá tra thì oxy thường cao ở lớp nước mặt (1 mét đến 1,5 mét) vào ban ngày và có thể giảm rất thấp vào ban đêm. Sự thiếu oxy trong ao cá tra có thể do ao nuôi cá có nhiệt độ nước cao (biến động 28-32°C) dẫn đến hệ số hòa tan oxy vào nước giảm, mật độ nuôi quá cao, đáy ao có nhiều hợp chất hữu cơ tích tụ hay sục khí không đầy đủ.

Đôi tay ông Khoa vừa nhẹ nhàng vớt nước đã pha thuốc tắm cho bầy cá trước khi đưa vào thả, ông vừa giảng giải với chúng tôi: "Khi tắm thuốc cho cá cần sục khí, nếu thấy cá có hiện tượng khác thường như đớp khí ở mặt nước, cá quẫy hỗn loạn hay nhảy lên khỏi dụng cụ chứa thì phải vớt cá ra ngay". Vui tính và cởi mở ông chẳng có ý giữ bí mật bài thuốc quý mà ông mất nhiều công sức tìm tòi, thử nghiệm.